Search by category:
ĐỒNG KHỞI, MỘT PHƯƠNG PHÁP TU HÀNH ĐẶC TRƯNG CỦA ĐẠI ẤN
Sống an vui

ĐỒNG KHỞI, MỘT PHƯƠNG PHÁP TU HÀNH ĐẶC TRƯNG CỦA ĐẠI ẤN

#Tánh Hải

Chúng ta thường đọc tụng kinh điển và điều không thể thiếu trong các thời kinh tụng là: Bát Nhã Tâm Kinh. Trong Bát Nhã Tâm Kinh có câu: “Không tức thị sắc, sắc tức thị Không” (Không chính là sắc, sắc chính  là Không).

Câu kinh này được làm rõ và nổi bật trong cách tu Đồng Khởi của Đại Ấn.

 

  1. Đồng Khởi như thế nào?

       “Từ lhenchig kyepa Tây Tạng được dịch là “đồng khởi” hay “đến cùng nhau”, như hai con sông hòa với nhau. Nó cũng có thể được dịch là “bẩm sinh”, bởi vì theo nghĩa đen nó là “sanh cùng nhau” (câu sanh).”

Như vậy, cái gì sanh khởi cùng nhau?

“Khi chúng ta nói đến đồng khởi, chúng ta không nói cái gì khác ngoài thật tánh của tâm. Như vậy, đồng khởi nghĩa là tịnh quang giống như không gian và nó trùm khắp tất cả sanh tử và niết bàn.

Khi chúng ta nói đến đồng khởi, chúng ta cũng nói đến sự bất khả phân, của tánh Không và quang minh. Khi người bình thường như chúng ta hiểu điều gì về tánh Không của tâm, chúng ta không hiểu quang minh của nó, và khi chúng ta hiểu điều gì về quang minh của tâm, chúng ta không nắm được tánh Không của nó. Nhưng thật ra, tánh Không và quang minh của tâm hoàn toàn hòa nhập với nhau.

Tánh Không của tâm không phải là một tánh Không phủ định quang minh – nó là sự không có nền tảng hoàn toàn của tâm. Và quang minh của tâm không làm cứng đặc khả năng biết của nó. Tánh Không và quang minh không mâu thuẫn chút nào. Chúng là đồng khởi.”

Hay nói rõ hơn trong cuộc sống này:

“Đó là những hiện tượng (pháp) và tinh túy của chúng, hay thực tại (pháp tánh). Chúng ta có thể giải thích điều này bằng cách nói rằng có những hiện tượng, gồm những sự vật vững chắc và những sự vật chuyển động, và cùng một thời gian, có thực tại. Đó là chúng ta kinh nghiệm sự vật như thế nào.

Một cách khác để diễn tả điều này là nói rằng có sự xuất hiện của những hiện tượng, và đồng thời, có thật tánh của chúng, nó là tánh Không.”

Và đến đây chúng ta thắc mắc từ đâu mà có đồng khởi?

“Khi chúng ta nói đến đồng khởi, chúng ta không nói cái gì khác ngoài thật tánh của tâm. Như vậy, đồng khởi nghĩa là tịnh quang giống như không gian và nó trùm khắp tất cả sanh tử và niết bàn.”

Và một sự thật ta cần nhận ra là:

“Không phải chúng ta đem lại sự đồng khởi này và tánh Không này thành hiện hữu khi ta tham thiền. Chỉ là chúng ta bình thường không nhận biết sự đồng khởi vốn là bản tánh của tâm và bản tánh của những hiện tượng. Qua tham thiền, chúng ta bắt đầu hiểu nó.”(Trích trong Những Điểm Thiết Yếu của Đại Ấn Nhìn Thẳng Tâm, Chương 11 Tâm Như Nó Là và Đồng Khởi. Tác Giả: Thrangu Ringpoche Nhà Xuất bản Thiện Tri Thức)

Từ cách trình bày như trên về đồng khởi chúng ta nhận thấy: một chúng sanh chỉ một bề thấy biết tất cả qua hiện tượng, qua các hình tướng, qua sự sanh diệt của tâm thức. Với cách tu Đồng khởi chỉ ra cho chúng ta thấy một sự thật đã hiện hữu sẵn là: trên các hiện tướng mà chúng ta đang sống và mê mờ vì nó; thì tánh không và quang minh hay giải thoát hay bản chất của tâm và các hiện tướng là chưa bao giờ tách rời. Chúng là đồng khởi.

Nếu người mê một bề chạy theo sinh tử tức thế giới hiện tượng; ngược lại, người tu không chạy theo sanh tử chỉ giữ cho tâm mình thanh tịnh để giải thoát tức có niết bàn để chứng. Với Đồng khởi, là cách tu vượt qua chứng đắc để thấy ngay sanh tử là niết bàn. (phiền não tức Bồ đề).

Thực hiện pháp tu Đồng khởi là sự dung hòa giữa cuộc đời thế tục và giải thoát; đây là cách tu mang tính cộng đồng và hòa nhập, rất phù hợp với hoàn cảnh sống chúng ta hiện nay.

Pháp tu đồng khởi mang tính bao dung; phương pháp này dung nhiếp và nhận diện ra giải thoát mọi lúc, mọi nơi, mọi đối tượng, mọi thứ tâm.

 

  1. Những loại đồng khởi:

Có ba loại Đồng khởi:

“Trí huệ đồng khởi nền tảng: là thực tại của quang minh và tánh Không; nó là tâm trong bản tánh căn bản của nó. Trí huệ này đã hiện hữu trong chúng ta từ thời sơ thủy, nhưng chúng ta đã không biết nó. Thế nên, chúng ta cần nghe lời chỉ dạy của một guru (vị thầy), suy nghĩ về điều đã được nghe, và tham thiền về cái chúng ta đã hiểu.

Trí huệ đồng khởi con đường: là khi trí huệ đồng khởi được sanh trong chúng ta. Chúng ta trở nên quen biết với trí huệ đồng khởi, và sự quen biết với nó càng tăng trưởng hơn nữa.

Cuối cùng mọi vết dơ ngoại sanh, đó là những thứ không bẩm sinh nội tại nơi tâm, được xóa bỏ, và mọi phẩm tính tốt nở hoa trọn vẹn. Ở điểm này người ta hoàn thành thành tựu tối cao, hay giác ngộ, nó là trí huệ đồng khởi quả.” (Trích trong Những Điểm Thiết Yếu của Đại Ấn Nhìn Thẳng Tâm, Chương 11 Tâm Như Nó Là và Đồng Khởi. Tác Giả: Thrangu Ringpoche Nhà Xuất bản Thiện Tri Thức)

Ba loại trí huệ đồng khởi cho ta thấy:

Thứ nhất, phương pháp tu đồng khởi là nhận ra tánh Không cùng với hiện tướng của nó, là sự thật đã có sẵn gọi là trí huệ Đồng khởi nền tảng.

Thứ hai, vì chỉ nhận diện cái có sẵn nên nó không đặt chúng ta qua một quá trình nhân quả mà là phương pháp thực hành trực chỉ, tức cảnh tức tâm là cái thấy trực tiếp.

Thứ ba, phương pháp tu đồng khởi, chúng ta không tạo tác ra một sự thật nào để chứng nghiệm, không phá vở những hiện pháp đã có sẵn; mà chỉ phát hiện và làm quen với cái chưa từng sinh chưa từng diệt là tánh Không và quang minh, chúng luôn luôn hiện hữu cùng các tướng sanh diệt.

Cuối cùng, vì nhận diện và làm quen cho nên công phu càng miên mật, xuyên suốt, mọi lúc mọi nơi chừng nào thì càng làm quen chừng đó; vì vậy, đây là phương pháp mang tính thực hành rất cao.

 

  1. Những chỉ dạy của các Đại sư trong dòng Kagyu về Đồng khởi:

       Những chỉ dạy của Gompopa:

“Gampopa diễn tả hai loại đồng khởi: tâm đồng khởi và những hiện tướng đồng khởi.

Tâm đồng khởi ám chỉ điểm chứng ngộ khi thiền chỉ và thiền quán hòa hợp và chúng ta chứng ngộ tâm như nó là – trống không, quang minh và thoát khỏi phức tạp. Bấy giờ chúng ta an trụ trong tinh túy chân thật này của tâm.

Tuy nhiên, tâm có một nguồn tài nguyên, hay năng lượng không dứt. Nguồn vô tận này xuất lộ như những hiện tướng khác nhau. Bởi vì những hiện tướng này không vượt khỏi bản tánh của tâm, chúng được gọi là những hiện tướng đồng khởi. Trong cách này, chúng ta nối kết những chỉ dạy về đồng khởi với thực hành tham thiền.”

Và để cho dễ hiểu, dễ thực hành đồng khởi, đệ tử của Gampopa là Gomchung chia ra làm ba loại Đồng khởi: Bản thân tâm đồng khởi, hiện tướng đồng khởi và tư tưởng đồng khởi và sự kết nối ba phương diện thể hiện này của đồng khởi.

Ngài nhận định bản thân tâm đồng khởi là Pháp thân, hiện tướng đồng khởi là ánh sáng của Pháp thân và tư tưởng đồng khởi có thể được xem là những làn sóng của Pháp thân.

Mức độ nhận biết trực tiếp trong tham thiền về tính đồng khởi theo Gomchung là: “Tâm đồng khởi là Pháp thân thực tế, điều này nghĩa là cách thế hiện hữu của tâm – như sự hợp nhất của quang minh và tánh Không – không được thiết lập ngay từ ban đầu. Pháp thân thực tế là sự hòa nhập của quang minh – tánh Không của tâm khi chứng ngộ trong kinh nghiệm của thiền giả.”

Khi đã nhận biết được Pháp thân thực tế, Gomchung nhận xét: “ “Sự đồng khởi của hiện tướng là pháp thân”. Nói cách khác, những sự vật khác nhau xuất hiện, nhưng bởi vì bây giờ chúng ta hiểu chúng là sự hòa nhập hay thống nhất của quang minh và tánh Không, chúng ta không tin chúng là thật. Hơn nữa, chúng ta hiểu rằng chúng vô tự tánh, và trên cơ sở ấy khai triển trí huệ pháp thân.”

Cũng vậy:

“Khi những tư tưởng không bị hiểu lầm là có tự tánh, chúng được tìm thấy giống như những làn sóng của pháp thân.

Sự bất khả phân của tâm, hiện tướng và những tư tưởng vừa là pháp thân thực tế vừa là nghĩa của pháp thân. Nói cách khác, có pháp thân, nó là sự không thể khác biệt của tâm đồng khởi, hiện tướng đồng khởi, và tư tưởng đồng khởi, và đồng thời, có nghĩa là pháp thân, nó là sự đồng khởi không thể khác biệt của ba cái này.

Một phương diện không thể ưu thế hơn những phương diện kia, bởi vì cả ba không thể tách lìa, không thể khác biệt” (Trích trong Những Điểm Thiết Yếu của Đại Ấn Nhìn Thẳng Tâm, Chương 11 Tâm Như Nó Là và Đồng Khởi. Tác Giả: Thrangu Ringpoche Nhà Xuất bản Thiện Tri Thức)

 

  1. Ba phương diện của Đồng khởi:

Đây là cách thức đi thẳng vào thực hành bằng cách nhìn thẳng vào bản tánh của sự đồng khởi để có thể: “chỉ ra tâm đồng khởi”, “chỉ ra tư tưởng đồng khởi” và “hiện tướng đồng khởi”. 

 

Tâm đồng khởi:

Phương cách tiếp cận tâm đồng khởi được chỉ dạy như sau: “Để tiếp cận đồng khởi, chúng ta an trụ vào thiền chỉ và tâm nhìn vào chính nó. Không dừng tư tưởng mà chỉ tịnh hóa chính nó và trở nên bình an. Ở điểm này, tâm không thể được nhận thức như cái gì cả. Nó an trụ sống động và trong sáng trong một trạng thái tỉnh giác không thoái hóa thành nặng đục hay mờ tối. Tâm không lang thang mà vẫn trong sáng và quang minh. Trong Ánh trăng Đại Ấn, Tashi Namgyal nói, “Bản thân tâm vẫn quang minh và không dừng cái hiểu”. Tâm không mất thông minh mà tỉnh biết và tự chiếu sáng. Không thể giải thích đầy đủ điều này, phải kinh nghiệm lấy. Dù không thể diễn tả trạng thái này bằng lời, chúng ta có thể nói rằng nó là một kinh nghiệm biết sự vật như chúng là. Kinh nghiệm này sanh ra sự chắc chắn đích thực. Kinh nghiệm này gọi là thiền quán.”

Lời chỉ dạy thứ hai là: “Chúng ta bắt đầu tham thiền này khi tâm không chìm đắm và loạn động. Chúng ta nghĩ ngơi theo một cách rất thư giản. Chỉ bằng cách nhìn chính nó, tư tưởng được bình lặng. Điều này nêu bật kinh nghiệm thiền chỉ trong bối cảnh đại ấn. Từ trong thiền chỉ, chúng ta nghiên tầm những phẩm tính của quang minh và tánh Không. Nếu tâm ta xuất hiện là quang minh và sống động, chúng ta nhìn vào đó. Cái sống động ấy là gì? Nếu tâm ta có vẻ trống không, chúng ta nghiên tầm tánh Không này. Tánh Không ấy là gì? Nó trống không như thế nào? Chúng ta không cần đặt những câu hỏi này với ai khác; chúng ta cần trả lời chúng từ kinh nghiệm riêng.

Trong kinh nghiệm ấy, sự vững chắc được gọi là thiền chỉ và trí thông minh chứng ngộ bản tánh của sự vật là thiền quán. Tên của chúng khác nhau, nhưng ở điểm này, thiền chỉ và thiền quán không tách lìa, đúng ra chúng là hai phương diện của một sự việc. Chúng được thống nhất và hòa nhập.

       Khi kinh nghiệm của chúng ta về điều này an định, đó là tâm đồng khởi.” (Trích trong Những Điểm Thiết Yếu của Đại Ấn Nhìn Thẳng Tâm, Chương 11 Tâm Như Nó Là và Đồng Khởi. Tác Giả: Thrangu Ringpoche Nhà Xuất bản Thiện Tri Thức)

Qua hai lời dạy trên công việc của chúng ta tham thiền về tâm đồng khởi là:

Nhận dạng ra thiền chỉ. (tâm thoát khỏi che chướng và tạo tác của tâm thức, tâm an định)

Từ thiền chỉ phát sinh sự tỉnh biết mọi sự là thiền quán. (tâm an định nhưng sáng suốt, quang minh, tỉnh biết)

Nhận ra cả hai thiền chỉ và thiền quán là sự biểu hiện không thể tách lìa; chúng ta đã chứng nghiệm được tâm đồng khởi.

 

Tư tưởng Đồng khởi:

Lời dạy về tư tưởng đồng khởi như sau: “Để kinh nghiệm tư tưởng đồng khởi, chúng ta bắt đầu với cân bằng của tham thiền về tâm đồng khởi. Trong trạng thái ấy, chúng ta chủ ý làm cho một tư tưởng đặc biệt sanh khởi – có thể một tư tưởng thích thú hay khó chịu. Chúng ta làm nó sanh ra rất sống động và sắc sảo và rồi nhìn thẳng vào một cách trần trụi. Quan trọng là nó không phải là một tư tưởng bình thường mà là một tư tưởng xuất hiện sống động và rõ ràng. Trong bối cảnh này, chúng ta nhìn tư tưởng là không hiện hữu thật đến độ khi nó sanh khởi, chúng ta không bám vào nó như là nó thật.

       Cái gì là bản tánh của tư tưởng này sanh khởi trong tâm đồng khởi? Nó là một cái trống không, không thể nhận diện như cái này hay cái kia. Bản tánh của nó không thể xác định như cái này hay cái kia. Tư tưởng là sống động và rõ ràng, và sự trong sáng của nó không thể tách lìa với tánh Không của nó. Phương diện quang minh của tư tưởng và tánh Không là bản tánh của nó là không thể tách lìa. Khi tư tưởng này sanh khởi không bị ngăn ngại và thiền giả không bám luyến vào nó, đó là thiền chỉ. Khi thiền giả thấy rằng tư tưởng ấy không có tự tánh, đó là thiền quán. Để hoàn thành đầy đủ tham thiền, thiền chỉ và thiền quán phải hoàn toàn hòa nhập.”

Ngài lại dạy tiếp:

“Cũng có một ứng dụng rất thực tiễn cho sự chứng nghiệm tư tưởng đồng khởi này. Khi chúng ta kinh nghiệm vui sướng lớn lao và trở nên bị hấp dẫn bởi nó hay khi kinh nghiệm đau đớn mạnh mẽ và khốn khổ, chúng ta sanh ra những phiền não, tâm chúng ta trở nên rất nhiễu loạn. Vào những lúc như vậy lời dạy về tư tưởng đồng khởi có giá trị đặc biệt. Nếu chúng ta nhìn thẳng vào sự đau đớn và những phiền não, chúng sẽ bình lặng. Và nếu chúng ta nhìn thẳng vào những bám luyến mạnh mẽ, chúng sẽ giảm. Đây là mục tiêu đích thực của việc hiểu và có thể thực hành sự đồng khởi này của tư tưởng.” (Trích trong Những Điểm Thiết Yếu của Đại Ấn Nhìn Thẳng Tâm, Chương 11 Tâm Như Nó Là và Đồng Khởi. Tác Giả: Thrangu Ringpoche Nhà Xuất bản Thiện Tri Thức)

Qua sự chỉ dạy về tư tưởng đồng khởi chúng ta nhận thấy:

Dựa vào kinh nghiệm về tâm đồng khởi mà chúng ta đã có trong tham thiền; từ kinh nghiệm này chúng ta nhận thấy tư tưởng là biểu lộ của quang minh hay chính tư tưởng không khác gì với quang minh của tâm qua sự tỉnh biết của hành giả; và cũng trên cơ sở quang minh đó chúng ta nhận biết sự trống không của tư tưởng.

Chúng ta nhìn thẳng vào tư tưởng để nhận biết tư tưởng là biểu hiện của tánh Không và tư tưởng và tánh Không là đồng khởi (toàn thức tức Trí, toàn sóng tức là nước) 

 

Hiện tướng đồng khởi:

Lời dạy thực hành là: “Chúng ta bắt đầu tham thiền bằng cách an trụ trong cân bằng thiền định của tâm đồng khởi đã giải thích ở đoạn trước và nhìn vào bản thân tâm. Rồi chúng ta chú ý đến cái xuất hiện như những hiện tượng bên ngoài, chẳng hạn một cái bình, một buyn đinh, hay một trái núi. Ở điểm này, chúng ta có thể kinh nghiệm một số khó khăn. Bởi vì cho đến bây giờ, chúng ta đã thiết lập những khuynh hướng rất mạnh mẽ là thấy những sự vật như ở ngoài chúng ta. Chẳng hạn trái núi thì ở ngoài, còn tâm thì ở trong; chúng ta nghĩ rằng tâm đang nhìn trái núi. Thực hành tham thiền này có một sự không thoải mái lúc ban đầu bởi vì chúng ta được giới thiệu hiện tướng là một phương diện của tâm chúng ta.

Không phải con mắt đang nhìn một trái núi; đúng ra, có một hiện tướng của quang minh của tâm chúng ta như một trái núi. Hiện tướng là phần của cấu trúc tri giác của bản thân tâm. Không có gì ngoài quang minh bẩm sinh của tâm. Nó không phải là cái gì ở ngoài tâm.

       Khi dãy màu sắc và hình dạng xuất hiện, thiền giả không dừng lại hay cho phép nó mờ nhạt đi. Sự thực hành ở điểm này không phải là chỉ nhìn vào bản thân tâm và kinh nghiệm quang minh và tánh Không, mà đúng ra nhìn trần trụi vào bất cứ phương diện nào xuất hiện. Quang minh của hiện tướng ấy có một bản chất không thể nhận diện một cách trí thức. Nó là một tánh Không không thể nắm bắt và trụ vào. Nó là sự đồng khởi này của quang minh và tánh Không, hiện tướng đồng khởi này, mà thiền giả đang làm việc với trong thời kỳ này.”

Và để nhấn mạnh vào cái thấy trực tiếp ngài lại dạy: “Những người đề xướng trường phái Duy Tâm chủ trương rằng mọi hiện tướng chỉ là tâm. Các vị nói rằng mọi hiện tướng, gồm những sự vật cứng đặc ở bên ngoài như núi non và buyn đinh, đều là tâm. Các vị nói những hiện tượng có vẻ bên ngoài và cứng đặc không gì khác hơn là những hiện tướng của tâm bên trong – chúng không thực sự là những vật bên ngoài. Khi điều này là thật, nó không phải là cái đang được chỉ ra ở đây.

Ở đây từ “những hiện tướng” không ám chỉ những hiện tướng bên ngoài; đúng ra, nó ám chỉ kinh nghiệm tri giác một cái gì, như thấy một hình ảnh hay nghe một âm thanh. Cảm nhận nào đó đi với kinh nghiệm tri giác này. Chúng ta không cố gắng tạo ra một vấn đề về có hay không những hiện tượng có vẻ bên ngoài là bên ngoài thật. Chúng ta chỉ nhìn vào kinh nghiệm chúng ta đang thấy, đang nghe… Chúng ta đang nhìn thẳng vào đó, và khi làm thế, chúng ta thấy sự thật của vấn đề. Kinh nghiệm ấy trở nên không thể tách lìa với pháp tánh. Nó không vượt khỏi bản thân tâm.” (Trích trong Những Điểm Thiết Yếu của Đại Ấn Nhìn Thẳng Tâm, Chương 11 Tâm Như Nó Là và Đồng Khởi. Tác Giả: Thrangu Ringpoche Nhà Xuất bản Thiện Tri Thức)

Qua lời dạy trên chúng ta thấy cách thức nhận ra hiện tướng đồng khởi cũng giống như cách với tư tưởng đồng khởi.

Phần này nhấn mạnh về cảm nhận trực tiếp. Sự cảm nhận trực tiếp này khi nhìn vào một đối tượng, đồng khởi giữa đối tượng và tánh Không xảy ra không khác gì khi nhận ra sự hợp nhất giữa chỉ và quán hay tánh Không và quang minh trong cách nhận ra đồng khởi của tâm.

Có một nhận xét nữa, với cái thấy trực tiếp vào các hiện tướng, chúng ta sẽ thoát khỏi trụ chấp vào một trung tâm quan sát và đối tượng quan sát. Chỉ có một cái biết đơn sơ và sự vật hiện hữu trong quang minh đó. Đây cũng là cách chứng nghiệm ánh sáng Pháp thân mà ngài Gomchung đã dạy. Hiện tướng và ánh sáng Pháp thân là đồng khởi. (Toàn tướng tức tánh). 

 

Kết luận:

Phương pháp tu đồng khởi nhằm chỉ thẳng vào sự tổng hòa của tâm, tư tưởng và hiện tướng với tánh Không. Hay cả ba: tâm, tư tưởng và hiện tướng là biểu hiện của tánh Không; ba mặt của một tánh này là lối dạy đặc trưng của Đại Ấn trong dòng Kagyu.

Toàn cảnh đời sống của chúng ta không ra ngoài tâm, tư tưởng, và các hiện tướng. Khi hiểu ra điều này chúng ta có thể tu mọi lúc mọi nơi, mọi hoàn cảnh, mọi sự việc, mọi thứ tâm. Ở đâu, và lúc nào chúng ta cũng tu.

Đây là phương pháp trực chỉ vào tánh Không biểu hiện qua tâm, tư tưởng và các hiện tướng là cách tu không qua một phương tiện nào; chúng ta chỉ nhìn thẳng vào ba đối tượng biểu hiện trong cuộc sống để nhận ra giải thoát tức tánh Không. Một phương pháp tu không có nhân đưa đến quả, chúng ta chỉ thấy trực tiếp không qua một quá trình nào.

Một phương pháp tu chỉ ngay sanh tử là niết bàn, ngay thấy nghe hay biết sanh diệt là cái thấy bất sanh bất diệt. Vì vậy với đồng khởi chúng ta có thể nhận biết giải thoát ngay đời sống sanh tử bận rộn ngổn ngang này. Đây là tâm lượng thật sự của một Phật tử, tâm lượng có thể dung nhiếp hết tất cả, bởi vì tất cả xưa nay là giải thoát. (Đều đã thành Phật đạo, Chương 1 Kinh Pháp Hoa).

 

Những ngày tết năm Ất Mùi (2015), Tánh Hải.

 

Post Comment