Kinh Sách

Nên thuyết Bát-nhã Ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú rằng: Gaté gaté, paragaté, parasam-gaté, Bodhi svaha


BÁT NHÃ TÂM KINH THIỀN GIẢI
ĐƯƠNG ĐẠO
IN LẦN THỨ NHẤT 1981
IN LẦN THỨ HAI NXB. THIỆN TRI THỨC 2002

1. DẪN NHẬP
2. MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH
3. HÀNH GIẢI
4. Ma Ha
5. Bát-nhã Ba-la-mật-đa
6. Tâm Kinh
7. Quán Tự Tại Bồ-tát
8. Khi hành Bát-nhã Ba-la-mật-đa sâu xa
9. Chiếu kiến năm uẩn đều Không
10. Vượt qua mọi khổ ách
11. Xá-lợi Tử!
12. Không chẳng khác sắc
13. Sắc tức là Không, Không tức là sắc
14. Thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như thế
15. Xá-lợi Tử! Thế nên mọi pháp là Không tướng, không sanh không diệt, không cấu không tịnh, không tăng không giảm.
16. Thế nên trong Không, không có sắc, không có thọ tưởng hành thức, không có mắt tai mũi lưỡi thân ý, không có sắc thanh hương vị xúc pháp, không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới, không có vô minh, cũng không có hết vô minh, cho đến không có lão tử, cũng không có hết lão tử, không có Khổ, Tập, Diệt, Đạo, không có trí huệ cũng không có chứng đắc.
17. Do vô sở đắc, Bồ-tát y vào Bát-nhã Ba-la-mật-đa, tâm vô quái ngại, do vô quái ngại không mọi điên đảo, rời xa mọi điên đảo mộng tưởng, rốt ráo Niết-bàn
18. Ba đời chư Phật, do y vào Bát-nhã Ba-la-mật-đa, đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác
19. Thế nên biết Bát-nhã Ba-la-mật-đa là đại thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là vô đẳng đẳng chú, hay trừ tất cả khổ, chân thật bất hư
20. Nên thuyết Bát-nhã Ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú rằng Gaté gaté, paragaté, parasam-gaté, Bodhi svaha

Nên thuyết Bát-nhã Ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú rằng:
Gaté gaté, paragaté, parasam-gaté, Bodhi svaha

Trong kinh Lăng Nghiêm nói Đức Quán Thế Âm nhờ viên thông được tánh nghe nên hiện ra vô số thân diệu dụng và thuyết được vô biên bí mật thần chú. Tâm Kinh do ngài Quán Thế Âm giảng và cũng do ngài thuyết lên thần chú Bát-nhã.

Thần chú được thuyết từ Bản Tâm của Đức Quán Thế Âm, Bản Tâm đó cũng là Bản Tâm Chân Không của tất cả chư Phật. Bởi thế thần chú này là cây cầu nối giữa tâm thức phàm phu nhiễm ô của chúng ta với Tạng Tâm Chân Không của chư Phật. Sử dụng nó như một sức mạnh vượt qua khu rừng rậm tăm tối của tâm thức chúng ta để đến bờ bên kia của ánh sáng thanh tịnh. Đó là thấu đạt Tánh Không.

Thần chú (mantra) là cái hộ trì cho tâm thức. Thần chú Bát-nhã làm cho tâm thức dứt ra được khỏi những níu kéo hư vọng của các hoa đốm giữa hư không (năm ấm) để vượt qua được đến bờ bên kia. Khi đã đứng ở bờ bên kia mới biết là cũng chưa từng có bờ bên này. Qua được bờ bên kia, đó là công năng của thần chú đối với tâm thức con người.

Toàn thể Tâm Kinh là một thần chú. Thần chú đó làm biểu lộ bản tâm Tánh Không của mỗi chúng ta. Cho nên biết vận dụng bản tâm hằng hiện diện Trí Huệ soi chiếu Tánh Không nơi mỗi chúng ta trong từng niệm niệm tức là luôn luôn trì tụng thần chú. Thần chú tự tâm Tánh Không đó soi chiếu toàn bộ tưởng và tướng – tức là cái tạo ra sanh tử – phá tan chúng để tất cả chỉ còn là Tánh Không – Chân Không Diệu Hữu.

Không có thần chú nào bằng chú Bát-nhã vì đó là ánh sáng của bản tâm Tánh Không soi phá toàn bộ vô minh sanh tử. Không có ấn nào bằng ấn Bát-nhã, vì đó là Đại Ấn ấn tất cả sanh tử vào trong Tánh Không. Sử dụng Trí Huệ Bát-nhã như vậy, đó là con đường hiện thực của đại thần chú, của đại minh chú, của vô thượng chú, của vô đẳng đẳng chú vậy.

KẾT THÚC

Bát Nhã Tâm Kinh – bản tiếng Hoa

Bát Nhã Tâm Kinh – bản tiếng Anh

Heart of Perfect Wisdom

The Bodhisattva Avalokitesvara, from the deep course of Prajna wisdom, saw clearly that all five skandhas were empty and sundered all bonds of suffering.

Sariputra, know then: form does not differ from emptiness, nor does emptiness differ from form. Form is no other than emptiness, emptiness no other than form. The same is true of feelings, perceptions, impulses and consciousness.

Sariputra, all dharmas are marked with emptiness. None are born or die, nor are they defiled or immaculate, nor do they wax or wane. Therefore, where there is emptiness, there is no form, no feeling, no perception, no impulse, nor is there consciousness. No eye, ear, nose, tongue, body, or mind. No color, sound, smell, taste, touch, or object of mind. There is no domain of sight nor even domain of mind consciousness. There is no ignorance nor is there ceasing of ignorance. There is no withering, no death, nor is there ceasing of withering and death. There is no suffering, or cause of suffering, or cease in suffering, or path to lead from suffering. There is no cognition, nor even attainment.

So know that the Bodhisattva, indifferent to any kind of attainment whatsoever but dwelling in Prajna wisdom, is freed of any thought covering, get rid of the fear bred by it, has overcome what can upset and in the end reaches utmost Nirvana. All Buddhas of past and present, and Buddhas of future time, through faith in Prajna wisdom, come to full and perfect Enlightenment.

Therefore, one should know the Prajna paramita as the mantra of great knowledge, the miraculous, the utmost, the unequalled mantra, whose words relieve all suffering. This is highest wisdom, true beyond all doubt.

Know then and proclaim the Prajna paramita mantra. It spells like this:

Gate, gate, paragate, parasamgate, bodhi svaha!

 

Bát Nhã Tâm Kinh – bản tiếng Pháp

Le Sutra de l’Esprit de la Grande Vertu de Sagesse

Lorsque le Bodhisattva Avalokitesvara accomplit profondément la grande Vertu de Sagesse, il considéra les cinq agrégats comme vides et traversa ainsi toutes les souffrances et afflictions.

Sariputra, les formes ne sont pas différentes du vide. Le vide n’est pas différent des formes. Les formes ne sont rien d’autre que le vide. Le vide n’est rien d’autre que les formes. Il en est de même des sensations, des perceptions, des formations mentales et de la conscience.

Sariputra, tous ces dharma ont l’aspect du vide. Ils ne naissent ni ne disparaissent. Ils ne sont ni souillés ni purs. Ils ne croissent ni ne décroissent. C’est pourquoi, dans le vide, il n’y a pas de forme, de sensation, de perception, de formation mentale ni de conscience. Il n’y a pas d’oeil, d’oreille, de nez, de langue, de corps ni de mental. Il n’y a pas de couleur, de son, d’odeur, de saveur, de toucher ni d’objet de pensée. Il n’y a pas de domaine du visuel et pour finir pas de domaine de la connaissance mentale. Il n’y a pas d’ignorance et pas plus de cessation de l’ignorance. Pour finir, il n’y a pas de vieillesse ni de mort, et pas plus de cessation de la vieillesse ni de la mort. Il n’y a pas de souffrance, d’origine, de cessation ni de chemin. Il n’y a pas de connaissance ni même d’obtention.

Comme il n’y a rien à obtenir, c’est pourquoi les Bodhisattva s’appuient sur la vertu de sagesse. Leur esprit ne conna? pas d’entrave, ainsi ils n’ont pas de peur. En se libérant des erreurs et des égarements, ils atteignent enfin l’ultime Nirvana. Tous les Bouddhas du passé, du présent et du futur, en s’appuyant sur la vertu de sagesse, ont obtenu le suprême et parfait Éveil.

Aussi professe-t-on la vertu de sagesse. Par un grand mantra miraculeux, par un mantra de grande connaissance, par un mantra insurpassable, par un mantra sans égal. Il supprime toute souffrance, en vérité et sans fausseté.

Voilà donc le mantra qui proclame la grande Vertu de Sagesse. Ce mantra dit:

Gate, gate, paragate, parasamgate, bodhi svaha!

2 Comments

  1. Kính thưa thiện tri thức. Qua bản kinh bát nhã ba la mật, tôi chưa biết cách thực hành. Vì tôi nghĩ có 3 quan niệm trong đạo Phật: thứ nhất là quán tất cả mọi sự vật ( thân tâm cảnh ) là hư huyển, thứ hai là quán mọi sự vật đều khởi nguyên từ tính không, vốn đã hoàn hảo, viên mãn, thứ ba là trong khi quán sát vạn vật thì phát sinh ra một nghi vấn là Ai quán? ai cười ai khóc ai hạnh phúc, ai khổ đau, ai trôi lăn trong tam giới. Ai??? Rất mong trong việc thực hành để giải thoát, giác ngộ, tôi phải tu tập theo cách nào trong 3 cách trên? Rất mong được sự hướng dẩn. Chân thành cảm ơn

    Reply
    1. Trả lời;
      Bạn có một câu hỏi rất hay và rất thực tế. Nguyên nhân của mọi khổ đau sanh tử của chúng ta là chấp mắc vào một cái tôi tưởng tượng, cái ta ảo tưởng.
      Tánh không là nền tảng ứng hiện ra vạn vật, vạn sự; khi ứng hiện dù có những hình tướng; nhưng thật ra các hình tướng đó cũng đồng nhất với tánh không, các hình tướng này vốn giải thoát như tánh Không.
      Các sóng dù ứng hiện như thế nào nơi đại dương thì nó cũng không ngoài đại dương. Chúng ta mê các sóng, thấy sự ứng hiện đó là thật; cái hay thấy vốn tự giải thoát, bị chúng ta nắm bắt tóm lấy tạo thành một cái tôi, và có tôi thấy có đối cảnh bị thấy và chúng hình thành thế giới sinh tử.
      Pháp giới chỉ một tướng giải thoát vì chúng ta bị dính mắc vào các hình tướng biểu hiện của pháp giới mà có chia chẽ ra thành thế giới sanh tử.
      Quán như huyễn là nhận biết sự không thật của nó, các pháp thực ra nó là như huyễn như chúng ta phân tích ở trên; nhưng chúng ta chấp nó là thật, vì vậy phải quán như huyễn là cách chúng ta tập nhận thức ngược với nhận thức dính mắc nhiều đời, coi mọi pháp là thật. quán như huyễn thành công, là khi chúng ta thôi dứt không còn xem các pháp là thật nữa, đến lúc nào đó tâm tương ưng với “tánh Không”, tức khắc chúng ta nhận ra thực tánh của các pháp.
      Trong quá trình tu hành, người tu không thể nào dựa trên cái thấy tuyệt đối để thực hành được.
      Chẳng hạn như trong kinh Quán Tứ Niệm Xứ, đức Phật dạy:
      “Với tâm có tham, biết rằng tâm có tham”; hay “với tâm không tham, biết rằng tâm không tham”; hay “với tâm có sân, biết rằng tâm có sân”; hay “Với tâm không sân, biết rằng tâm không sân” hay “với tâm có si, biết rằng tâm có si”; hay “Với tâm không si, biết rằng tâm không si”; hay “Với tâm thâu nhiếp, biết rằng tâm thâu nhiếp”; hay “Với tâm tán loạn, biết rằng tâm tán loạn…”; nghĩa là trong mọi thứ tâm đều phải có cái “biết”. Và cuối bài kinh ngài dạy: người thực hành quán như vậy với “Biết mà không chấp trước vật gì”.
      Vấn đề của chúng ta là cũng biết nhưng còn thấy có ta biết. Khi nào biết mà không có ta thì đó là trí Bát Nhã chứ không có gì lạ.
      Có hai con đường một là qua các tầng định tâm để nhận ra cái thấy không bị che chướng bởi một cái ta. Bạn phải chứng nghiệm được tâm thức bạn đến chỗ “Dứt đường ngôn ngữ bặt chỗ tâm hành”.
      Con đường thứ hai là chỉ ra bản tánh tâm thức ở tâm bình thường, chúng ta được một vị thầy có kinh nghiệm đưa vào, gợi ý vào; khi nào vị thầy thấy đệ tử có sự tương ưng với bản Tâm.
      Người này phải ở bên thầy hay một thiện tri thức đã có kinh nghiệm dẫn dắt. Nếu tâm của chúng ta chưa được tương ưng, thì phải thực hành tu một pháp môn nào đó để dẹp bớt những dính mắc, những tri kiến, những quan điểm sống cố hữu… rất nhiều yếu tố là tác nhân che mất cái thấy không chấp trước hay trí Bát nhã, nếu còn nó; chúng ta luôn luôn bị cái bóng to lớn của nó phủ trùm trên nhận thức của mình.
      Không phải không có nguyên cớ mà Phật giáo Tây Tạng nói đến thực hành sơ bộ. Tức là, người tu hành nào bất kể, cả những người được xem là tái sanh vẫn phải thực hành sơ bộ.
      Lễ lạy một trăm ngàn lạy, cúng dường Mạn đà la một trăm ngàn lần, trì chú một trăm ngàn biến…
      Bạn muốn đi thẳng vào thực hành tu mà muốn thấy mình đang thực hành thực tướng Bát nhã, tức là không có cái ta nữa, ít ra bạn phải qua thực hành sơ bộ để cho tâm thức nắm bắt, khôn ngoan của mình thôi dứt đi sự rào đón phân tích này kia. Còn không chúng ta chỉ nghiên cứu rồi phân tích cuối cùng chúng ta chẳng biết bắt đầu từ đâu cả.
      Nếu bạn thấy có một cái ta chắn ngang bạn trong khi tu hành thì đó là một đề mục cho bạn. Thử chiêm nghiệm về cái ta này trong mọi lúc mọi nơi, đeo đuổi nó xem nó có thật không?
      Tự mình phải đọc cho ra nơi xuất phát cái ta này; còn chỉ nhận biết như bạn là chỉ thấy sự ứng hiện của nó, dừng lại mà nói là khó khăn, cản trở thì thôi biết làm sao cứu được mình bây giờ? Bạn quán sự vật và quán cả cái ta này nữa, khi nào bạn thấy nó như huyễn thì lúc đó bạn sẽ có một nhận thức khác đi.

      Tóm lại, chỉ “biết”, cái gì cũng biết; cho đến lúc nào đó bạn sẽ thấy cái biết này không phải là ta biết nữa. Tự bạn sẽ nhận ra trí Bát Nhã.

      Reply

Post Comment

error: Content is protected !!