Search by category:
Kinh Sách

QUYỂN BỐN:

QUYỂN BỐN

MỤC TÁM
CHỈ RÕ CĂN NGUYÊN HƯ VỌNG
VÀ TÁNH GIÁC VIÊN MÃN.

1. PHÚ LÂU NA TRÌNH BÀY CHỔ NGHI.

Bấy giờ, Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử ở trọng đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trật vai áo phải, quỳ gối bên phải chấm đất, chấp tay cung kính bạch Phật:
Thế Tôn oai đức lớn, khéo vì chúng sanh diễn bày Như Lai Đệ nhất nghĩa đế. Đức Thế Tôn thường nói rằng trong những người thuyết pháp, con là thứ nhất. Nay nghe pháp âm vi diệu của Như Lai, cũng như người điếc cách ngoài trăm bước mà nghe tiếng muỗi mòng, đã không thể thấy huống gì được nghe. Phật tuy chỉ dạy rõ ràng muốn con trừ mê lầm, nhưng con còn chưa rõ chỗ rốt ráo không nghi lầm của nghĩa ấy.

Bạch Thế Tôn, như nhóm ông A Nan tuy được khai ngộ nhưng tập khí hữu lậu chưa trừ hết, còn chúng con ở trong hội đã lên hàng vô lậu, nhưng nay nghe pháp âm Như Lai vừa dạy vẫn còn những điều nghi hối.
Bạch Thế Tôn, nếu như tất cả căn, trần, xứ, giới,…của thế gian đều là Như Lai tạng, thanh tịnh bản nhiên, sao lại bỗng nhiên sanh ra có núi sông, đất đai, các tướng hữu vi lần lượt dời đổi, cuối cùng rồi trở lại chỗ bắt đầu?

Lại nữa, Như Lai nói đất, nước, gió, lửa bản tánh viên dung, toàn khắp pháp giới, lặng trong thường trụ. Bạch Thế Tôn, nếu tánh của đất là khắp cả thì làm sao dung được nước? Tánh nước là toàn khắp thì lửa chắc chẳng sanh, làm sao mà rõ hai tánh nước và lửa đều khắp cả hư không, không xâm lấn tiêu diệt lẫn nhau. Bạch Thế Tôn, tánh đất là chướng ngại, tánh hư không là rỗng suốt, làm sao cả hai đại ấy toàn khắp pháp giới?
Nay con không biết nghĩa ấy thế nào, cúi mong Như Lai ban bố đại từ, vén mở mây mê mờ cho con và tất cả đại chúng.
Nói lời ấy xong, năm vóc gieo xuống đất, ngưỡng mong lời dạy từ bi vô thượng của Như Lai

……………………………………

Nhóm ngài A Nan tuy đã khai ngộ nhưng chưa trừ hết tập khí hữu lậu thì hẳn là còn nghi. Nhưng ngài Phú Lâu Na và các ngài đã ở trong hàng vô lậu cũng vẫn còn những cái nghi rất vi tế. Đây là điều các vị Đại thừa nói rằng bậc Thanh Văn vẫn còn chấp pháp, dù là vi tế.

Tất cả đều là Như Lai tạng, thanh tịnh bản nhiên, sao bỗng nhiên sanh ra có núi sông, đất đai, thế giới, chúng sanh ?

Các đại, đại nào cũng toàn khắp pháp giới, tại sao dung được nhau, không xâm lấn tiêu diệt nhau?

Ngài Phú Lâu Na đã hỏi giúp tất cả chúng sanh chúng ta về vô minh vi tế, từ đó sanh ra vòng mười hai nhân duyên của sanh tử.

Để thấu hiểu vấn đề này phải thiền định hàng năm về chúng mới may ra có tự giải đáp. Còn nếu có đọc phần trả lời của Đức Phật ở sau, thì cũng phải tham thiền về câu trả lời ấy hàng năm mới thật hiểu. Vì chung quy sự học hiểu Phật giáo đi theo tiến trình mà các kinh đều nói. Văn, là nghe, đọc. Tư, tư duy, suy nghĩ về đề mục. Tu, thực hành thiền định để sáng tỏ vấn đề ấy.

……………………………………..

2. VÔ MINH ĐẦU TIÊN.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo Phú Lâu Na và các vị A La Hán vô học hết lậu trong hội rằng: Hôm nay Như Lai vì khắp hội này tuyên nói tánh chân thắng nghĩa ở trong thắng nghĩa. Khiến cho ở trong hội, hàng Định tánh Thanh Văn và hết thảy các vị A La Hán chưa đắc ngã không và pháp không, phát tâm hướng về thượng thừa đều được chỗ tu hành chân chánh, đất thật tịch diệt, đạo tràng chân tịnh của Nhất thừa. Nay ông hãy nghe kỹ, ta sẽ vì ông tuyền nói.
Phú Lâu Na và các vị im lặng cung kính chờ nghe pháp âm Phật.
Phật bảo: Phú Lâu Na, như lời ông nói, thanh tịnh bản nhiên, sao lại bỗng nhiên sanh ra núi sông, đất đai? Ông chẳng thường nghe Như Lai tuyên nói, tánh giác diệu minh, bổn giác minh diệu?

Phú Lâu Na thưa: Bạch Thế Tôn, đúng thế, con thường nghe Phật tuyên nói nghĩa ấy.

………………………………..

Thanh tịnh bản nhiên, sao lại bỗng nhiên sanh ra núi sông, trời đất?

Chỉ vì một niệm bất giác, liền phân ra chủ thể (năng) và đối tượng (sở). Do đó có ta sanh ra, có người sanh ra, có thế giới sanh ra. Một niệm quay về ở trong tánh giác thì đâu có cái gì sanh ra, vì xưa nay vẫn là Như Lai tạng diệu chân như tánh vô sanh.

Thấy sanh ra, đó là vô minh tạo ra sanh tử. Thấy vô sanh, ngã không pháp không, đó là đất thật tịch diệt, đạo tràng chân tịnh của Nhất thừa.

Trong phần sau, ở quyển Tám, nói về Bồ tát địa thứ tám, vị đắc Vô sanh pháp nhẫn như sau:

“Một tâm Chân Như, gọi là Bất động địa”.

Bất động là không còn bị cái động của một niệm bất giác phân chia thành chủ thể và đối tượng, tâm và cảnh, không còn thấy một tâm Chân Như bất động thanh tịnh bản nhiên, sao lại bỗng dưng sanh ra núi sông, trời đất.

Một trong những danh từ để chỉ địa này trong Kinh Hoa Nghiêm là Đồng chân địa. Đồng chân là trong trắng, chưa hề bị nhiễm ô bởi cái vô minh phân hai này.

…………………………………….

Phật bảo: Ông gọi là giác minh, vì tánh nó là minh nên gọi là giác. Hay vì cái giác có chỗ chẳng mình nên gọi là minh giác (làm sáng cái giác)?

Phú Lâu Na thưa: Nếu có cái chẳng minh nên gọi là cần giác, ắt giác có chỗ chẳng minh.

Phật dạy: Nếu không có chỗ để minh (sở minh) thì không có cái minh giác. Có chỗ để minh (sở minh) thì không phải là tánh giác, vì không có chỗ nào chẳng phải là minh. Nếu có chỗ không minh thì lại chẳng phải là tánh giác trong lặng sáng tỏ.

Tánh giác hẳn là minh, vọng mà có ra minh giác.

……………………………………

Tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu.

Giác ở khắp cả, không chỗ nào không giác. Minh ở khắp cả, không chỗ nào không minh. Diệu ở khắp cả, không chỗ nào không diệu.

Thế nhưng vô minh bắt đầu là khi vọng tưởng rằng có một trung tâm là mình, có cái minh ở nơi mình bèn có ngay phía bên kia chẳng minh. Khi đã giành tánh giác về phần mình thì phía bên kia chẳng phải là giác. Cái chẳng phải là giác là minh này là cái ở ngoài ta, là núi sông, đất đai, con người, thế giới, là hữu tình lẫn vô tình.

Có cái năng minh, năng giác bèn có ngay cái sở minh, sở giác. Cái sở minh này được tưởng là không có minh nên cái năng minh cần nỗ lực để minh nó. Cái sở giác này thấy như vô tri nên cái năng minh cần phải tạo tác ra cái giác để giác nó. Càng nỗ lực để minh, để giác thì hố chia cách giả tạo càng thêm lớn. Vô minh lại chồng thêm vô minh.

Cho nên không sanh một niệm vô minh bất giác, không sanh một niệm phân chia minh và giác, phân chia năng minh, sở minh và năng giác sở giác thì tất cả là tánh giác minh diệu, núi sông, đất đai… nào có sanh ra. Núi sông, đất đai, con người, thế giới là có mà vô sanh, đó gọi là diệu.

Tánh giác minh diệu như một tấm gương trong đó có núi sông, đất đai, con người, thế giới, như những ảnh hiện. Tất cả những ảnh hiện này không khác và không ngoài tấm gương, cho nên nói là
gương sanh là sai mà nói là các bóng tự sanh cũng sai. Chúng hiện nhưng như huyễn, chúng hình như có sanh nhưng thật ra vô sanh. Đại thừa hay dùng chữ Chân Không Diệu Hữu là như vậy.

Có sở minh, sở giác, có chỗ để minh, để giác, khi có chỗ, có một nơi chốn bèn không toàn khắp pháp giới nên hư vọng. Có năng minh, năng giác là có một trung tâm giả tạo mớí lập nên bèn mất tánh thanh tịnh bổn nhiên.

Không có năng minh và sở minh hư vọng, năng giác và sở giác tạo tác thêm hoa đốm thì đây là tánh giác minh, thanh tịnh bổn nhiên toàn khắp pháp giới, chỉ một tâm Chân Như.

Mở mắt mà nhìn, tất cả chỉ là một tánh giác, tánh minh, tánh diệu toàn khắp, còn có chỗ nào cho núi sông, đất đai… đã-sanh ra, đang sanh ra hay sẽ sanh ra. Đây là thấy bằng tánh thấy, nghe bằng tánh nghe, giác bằng tánh giác, trong đó vô minh tiêu tan.

…………………………………….

3. NGUYÊN NHÂN VỌNG THẤY CÓ THẾ GIỚI.

Tánh giác không phải là sở minh, thế mà nhân minh giác lập ra sở minh. Cái sở đã vọng lập, liền sanh cái năng hư vọng của ông.
Trong cái vốn không có đồng, không có khác, bỗng dưng khởi ra thành có cái khác. Khác với cái khác đã thành kia, nhân cái khác ấy mà lập ra cái đồng. Cái đồng cái khác đã phát sanh ra, nhân đó mới lại lập ra cái không đồng không khác.
Như thế mà rối loạn, đối đãi với nhau mà sanh mỏi nhọc.Mỏi nhọc lâu dài thì sanh ra trần tướng mà làm vẫn đục nhau, do đó mà dẫn khởi ra những trần lao phiền não.Khởi lên thì có ra thế giới, yên lặng thì thành hư không. Hư không là đồng, thế giới là khác. Dầu là không đồng không khác cũng vẫn là pháp hữu vi.

………………………………….

Sở có thì năng có, năng có thì sở có. Cả hai đều hư vọng lập ra trong Như Lai tạng vô sanh. Trong Như Lai tạng chỉ thuần một vị giác ngộ, khi đã hư vọng lập ra năng sở, cái này giác cái kia không giác, cái này minh cái kia không minh, thì trong cái vốn không có đồng không có khác bỗng hư vọng khởi lên ý niệm đồng và khác và rồi trên cái đồng và khác ấy hư vọng lập ra cái không đồng không khác.

Sự rối loạn, mỏi nhọc của tâm đã tạo ra thế giới. Sự đối đãi với nhau trong tâm đã tạo thành sự xung đột giữa người với người, giữa người với thiên nhiên, thật ra cũng chỉ là tự phân cách mình với mình,
xung đột mình với mình mà thôi. Thế giới phân mảnh này là sanh tử trói buộc giam nhốt chúng ta. Cho nên để đưa thế giới và con người là mặt trăng thứ hai trở lại mặt trăng thật là Như Lai tạng diệu chân như tánh, chỉ có cách duy nhất là tịnh hóa tâm phân biệt mỏi nhọc của mình, tịnh hóa tất cả phiền não chướng (trần lao phiền não) và tất cả sở tri chướng (cái thấy có năng sở, đồng khác).

Để thực sự chữa trị các tướng do phân biệt sanh ra này, kinh dạy phải đưa tất cả tướng về nguồn tánh, đưa tất cả thức tưởng về căn bản trí không phân biệt hay tự nhiên trí bổn nguyên.

……………………………………..

Cái giác minh và hư không mờ tối đối đãi nhau thành ra có lay động, cho nên có phong luân nắm giữ thế giới. Nhân hư không mà sanh ra lay động, kiên cố cái sáng mà lập thành sự ngăn ngại Các thứ kim quý do minh giác lập ra tính cứng, cho nên có kim luân mang giữ cõi nước. Kiên cố cái giác thì thành kim bảo, lay động cái minh thì có gió. Gió và kim cọ xát nhau nên có lửa sáng thành tính biến hóa. Ánh sáng của kim bảo nhuần thấm, lửa sáng xông lên, cho nên có thủy luân bao khắp mười phương cõi. Lửa bốc lên, nước sa xuống giao nhau phát nên tính cứng, chỗ ướt là biển lớn, chỗ khô là lục địa và đảo. Do nghĩa ấy trong biển lớn hơi nóng thường bốc lên, trong lục địa và đảo, sông ngòi thường chảy xuống. Thế nước kém lửa thì kết thành núi cao, bởi thế đá núi đập vào thì xẹt lửa, nung thì chảy ra nước. Thế đất kém thế nước, nảy lên làm cỏ cây, cho nên rừng rú đốt thì thành đất, vắt ra thành nước.

Các vọng tưởng giao nhau mà phát sinh, lần lượt làm chủng tử cho nhau. Do nhân duyên ấy thế giới tương tục.

………………………………………….

Một khi tánh giác đã bị phân biệt thành một cái sở là giác minh thì bèn có cái sở khác là hư không không có giác, không có minh. Sự đối đãi do tánh giác đã bị phân hai, đã thành một cái sở, một đối
tượng, đã bị giới hạn, là sự đối đãi đầu tiên sanh ra mọi đối đãi khác. Đối đãi cho đến lúc các cái sở kia trở thành “thế giới của các pháp hữu vi” .

Khi chánh báo là tâm đã thành năng minh và sở minh, thì y báo là cảnh của thế giới vũ trụ hiện thành. Chánh báo càng thô nặng thì y báo là thế giới vật chất càng thô nặng. Nhưng điều chính là, vật chất là do các vọng tưởng đông đặc lại mà thành: Ba cõi duy tâm, muôn pháp duy thức. Thế giới hữu vi tương tục vì các vọng tưởng tương tục; thế giới thô nặng vì tham, sân, si, kiêu mạn, đố kỵ … thô nặng .

Cho nên muốn giải thoát khỏi cái vọng thấy thế giới, phải thoát khỏi các vọng tưởng phân biệt. Bởi vì tất cả mọi con đường, mọi tông phái Phật giáo đều đi chung theo một hướng, một đại lộ, “Tự tịnh kỳ
ý”, dầu tịnh theo cách nào, nhanh hay chậm, chiến lược hay chiến thuật, tổng thể hay phần tử.

Ngay giờ đây mà không động niệm phân biệt, thì giác minh trở lại tánh giác, thế giới hữu vi trở lại thật tướng của nó. Trụ trong thật tướng ấy là tu, là đi trên con đường giải thoát và giác ngộ.

………………………………..

Lại nữa, Phú Lâu Na, cái minh hư vọng ấy chẳng phải là cái gì khác, lỗi là từ cái giác minh. Cái sở minh đã hư vọng lập ra, thì phạm vi của cái năng minh không vượt qua được. Do nhân duyên này mà nghe không ra ngoài tiếng, thấy chẳng vượt khỏi sắc. Sáu thứ vọng sắc, hương, vị, xúc….thành tựu, do đó mà phân ra có thấy, nghe, hay, biết.

Đồng nghiệp ràng buộc nhau mà có hợp, có lìa, có thành, có hóa. Cái thấy mà làm năng minh thì sắc phát ra, rồi cái năng minh cho cái thấy thì thành có tư tưởng. Thấy khác thì thành ra ghét, cùng tư tưởng thì thành thương. Chảy tràn cái thương yêu làm thành hạt giống, thu nạp tưởng niệm làm thành thai, giao cấu phát sanh, hấp dẫn cái cùng một nghiệp, nên có nhân duyên sanh ra yết la lam, át bồ đàm…. Thai sanh, noãn sanh, thấp sanh, hóa sanh tùy theo chỗ mà ứng hiện. Noãn sinh chỉ do tưởng mà có, thai sinh do tình mà có, thấp sinh do hợp mà cảm, hóa sinh do phân lìa mà ứng hiện. Tình, tưởng, hợp, lìa thay đổi lẫn nhau, do đó mà chịu nghiệp, theo đó mà chìm nỗi. Do nhân duyên ấy chúng sanh tương tục.

……………………………….

Quá trình vô minh sản sanh ra hư vọng này là vấn đề cá nhân. Sanh tử là sanh tử với mình, diệt hết sanh tử là diệt với mình, còn tánh giác diệu minh, pháp giới vẫn thanh tịnh vô sanh như vậy từ xưa nay và vĩnh viễn về sau.

Tánh giác khi đã có vô minh khởi động phân biệt thì thành cái giác minh.

Khi cái minh đã thành sở, có chỗ nơi và không toàn khắp như tánh giác thì đó là cái sở minh hư vọng. Cùng một lúc sở minh lập thì năng minh cũng thành. Sở minh càng phân mảnh, càng thô nặng thì thành sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, và năng minh thành các giác quan, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sở minh và năng minh giới hạn nhau, do đó mà nghe không ra ngoài tiếng, thấy không vượt khỏi sắc.

Sở minh là trần, năng minh là căn, ở giữa thức sanh ra. Thức bám chấp vào cái ta và cái của ta tạo thành nghiệp thức. Nghiệp thức ấy theo nghiệp, tức là thói quen, mà sanh ra trong bốn loài noãn, thai, thấp, hóa. Cứ tương tục như vậy mãi trong luân hồi sanh tử.

Nhưng ở đây chúng ta thấy một con đường thoát: trong cái sở minh (trần) và cái năng minh (căn), có minh, tức là ánh sáng. Nếu biết tìm thấy ánh sáng minh ấy nơi căn trần thức, bằng cách đi ngược lại chúng ta sẽ trở về lại cái minh bổn nguyên của tánh giác minh diệu chấm dứt sanh tử luân hồi hư vọng.

Sở minh năng minh giới hạn nhau khiến tánh giác thành sanh tử. Phá được năng sở giới hạn này là giải thoát, khi ấy chỉ còn một cái minh, một ánh sáng bổn nguyên: tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu.

…………………………………

Phú Lâu Na, các tưởng yêu thương cùng kết hợp với nhau, yêu thương chẳng rời, do đó trong thế gian cha mẹ, con cháu, sanh nhau không dứt. Những việc như thế do tham dục làm gốc. Tham và yêu mến cùng nuôi nhau, tham muốn chẳng ngừng nên trong thế gian các loài noãn sanh, hóa sanh, thấp sanh, thai sanh tùy sức mạnh yếu lần lượt ăn nuốt lẫn nhau. Những việc như thế do tham sát làm gốc. Người ăn dê, dê chết làm người, người chết làm dê. Như vậy cho đến mười loài chúng sanh chết sống, sống chết, ăn nuốt lẫn nhau. Nghiệp ác càng sanh cho đến tột đời vị lai. Những việc như thế do tham trộm làm gốc.

Người này mắc nợ mạng người kia, người kia trả nợ cũ cho người này, do nhân duyên ấy mà trải qua trăm ngàn kiếp thường ở trong sanh tử. Người này yêu tâm người kia, người kia thích cái sắc người này. Do nhân duyên ấy trải qua trăm nghìn kiếp thường ở trong trói buộc.

Chỉ ba thứ giết, trộm, dâm làm gốc rễ, mà do nhân duyên ấy nghiệp quả tương tục.

Phú Lâu Na, ba thứ điên đảo tương tục như thế, đều là tánh rõ biết sáng tỏ của giác minh. Nhân biết mà phát ra có hình tướng. Từ vọng thấy sanh ra có núi sông, đất đai, các tướng hữu vi, thứ lớp đổi dời, đều nhân cái hư vọng ấy mà hết rồi lại bắt đầu.

……………………………….

Tham dục thì sanh nhau không dứt. Nợ mạng, nợ những hành động gây tổn hại thì phải tái sanh để trả nợ. Yêu tâm, thích sắc thì cứ trói buộc nhau bao nhiêu kiếp. Kiếp này hết qua kiếp khác, tương tục không dứt, đó là luân hồi sanh tử.

Giác minh dù thấy và làm trong mê vọng nhưng vẫn có phần nào tánh rõ biết sáng tỏ vì giác minh là tánh giác đã bị ô nhiễm bởi vô minh. Cho nên trong đối đãi rối loạn của năng và sở hư vọng mà nhận
ra hư vọng luôn luôn nằm trên tánh rõ biết sáng tỏ thì đây là con đường chấm dứt hư vọng, hiển lộ tánh giác.

…………………………………….

4. CHỈ RÕ GIÁC CHẲNG SANH MÊ.

Phú Lâu Na thưa: Nếu tánh diệu giác vốn diệu minh này cùng tâm Như Lai, không tăng không giảm, vô cớ bỗng nhiên sanh ra núi sông, đất đai, các tướng hữu vi. Vậy nay Như Lai đã chứng được Diệu giác minh không, thì lúc nào lại sanh ra núi sông, đất đai và các tập lậu hữu vi?
Phật bảo Phú Lâu Na: Ví như người mê, ở trong một xóm làng, lầm hướng Nam là hướng Bắc, cái mê ấy nhân mê mà có hay nhân ngộ mà sanh?
Phú Lâu Na thưa: Người mê như vậy, cũng chẳng nhân mê cũng chẳng nhân ngộ. Vì sao thế? Cái mê vốn không có gốc gác, làm sao mà nhân mê? Ngộ chẳng sanh ra mê, làm sao mà nhân ngộ?

Phật nói: Nguời mê kia, ngay khi đang mê, bỗng có người ngộ khiến cho tỏ ngộ. Phú Lâu Na, ý ông thế nào? Người ấy đã bỏ cái mê rồi thì ở nơi xóm làng ấy có còn sanh mê lại không?
_ Bạch Thế Tôn, không.
_ Phú Lâu Na, mười phương Như Lai cũng lại như vậy. Cái mê ấy không có gốc gác, tánh nó rốt ráo không. Xưa vốn không có mê, mà in tuồng như có mê, có giác. Giác được cái mê thì mê diệt mà cái giác vốn chẳng sanh mê.
Cũng như người lòa mắt thấy hoa đốm trong hư không, nếu bệnh lòa hết thì hoa đốm trong hư không diệt mất. Bỗng có người ngu,ở chỗ hư không mà hoa đốm kia đã diệt lại chờ đợi hoa kia sanh trở lại. Ông xét người ấy là ngu hay trí?

Phú Lâu Na thưa: Hư không nguyên không có hoa đốm mà vọng thấy có sanh diệt. Thấy có hoa đốm diệt mất giữa hư không đã là điên đảo, lại còn muốn nghĩ bao giờ chúng sanh ra trở lại thì thật là điên dại, làm sao gọi người điên cuồng như thế là ngu hay trí.
Phật dạy: Ông hiểu như thế sao lại còn hỏi, tánh diệu giác minh không của chư Phật Như Lai đến khi nào lại sanh ra núi sông đất đai?
Cũng như quặng vàng trộn lẫn với vàng ròng, một khi vàng đã thành ròng, chẳng trở lại thành quặng lẫn lộn nữa. Như cây đã đốt thành tro chẳng trở lại thành cây nữa. Giác ngộ, Niết bàn của chư Như Lai cũng lại như vậy.

…………………………………………..

Ngài Phú Lâu Na tiếp tục hỏi cho những thắc mắc của chúng ta. Tâm Như Lai là tánh diệu giác vốn diệu minh không tăng không giảm, vô cớ bỗng nhiên sanh ra núi sông đất đai, nay Như Lai đã chứng tánh ấy thì lúc nào núi sông đất đai sanh ra trở lại? Chứng được tánh giác vốn không tăng không giảm này thì có bao giờ có cái gì sanh ra, cái gì diệt mất.

Như người mê lầm phương hướng, cái mê ấy không có gốc gác, làm sao mà nhân mê mà có? Quan sát sâu xa cái mê sanh tử này thật không có gốc gác, bèn được giải thoát.

Rồi chẳng lẽ cái mê ấy do ngộ mà có, bóng tối do ánh sáng mà có, cái mê tạo ra sanh tử do tánh giác mà có? Hãy thiền quán thật sâu xa lời dạy của Đức Phật, thiền quán đến đâu trí huệ Bát Nhã hiện ra đến đó mới có thể nhổ được gốc sanh tử hư vọng.

Hư không nguyên không có hoa đốm sanh diệt, Diệu giác minh không vốn không có sanh tử sanh diệt. Hãy thiền quán lời dạy này cho đến khi thật thấy, đạt được cái thấy của việc “đắc pháp nhãn tịnh”.

Và rồi ngài Phú Lâu Na còn đẩy người tu hành đến một cái thấy cao hơn nữa, cái thấy của vô sanh pháp nhẫn, vô công dụng đạo. “Thấy có hoa đốm diệt mất giữa hư không đã là điên đảo”, hoa đốm chưa từng sanh mà thấy hoa đốm có diệt mất, là một điên đảo vi tế. “Lại còn muốn nghĩ bao giờ chúng sanh ra trở lại thì thật là điên dại”, chung quy chỉ vì thấy hoa đốm là thật có, sanh tử là thật có, từ đó có hy vọng và sợ hãi. Thật có thì có sanh rồi có diệt, thật có thì có diệt rồi e có lúc lại sanh ra. Hoa đốm chưa từng sanh, chưa từng có thì nói gì đến chuyện sanh diệt của hoa đốm. Giấc mộng không nhân đâu có, không thể sanh trụ dị diệt ở đâu cả thì mong hay không mong sanh trở lại là điều điên rồ. Như chờ hoa đốm kết thành trái, như giấc mộng đã mất, mà ngồi chờ nó biến thành thực trước mắt.

Chính đại trí thấy tất cả như huyễn này làm phát sanh đại bi, khi nhìn thấy chúng sanh mê mờ, điên đảo mong chờ hay sợ hãi hoa đốm kết thành trái giữa hư không, đợi hay lo giấc mộng sẽ thành sự thật.

Quan sát đoạn kinh này mới thấy người tu hành chúng ta phần đông đang tu trên hoa đốm, đang lấy hoa đốm mà hành, rồi chờ đợi hoa đốm ấy kết thành quả. Chúng sanh chúng ta đang tu trong giấc mộng mà lại chờ mộng ấy biến thành thực ngộ. Thiền quán như vậy cho đến lúc sanh tử vở toang, mê mộng cạn kiệt, mới thấu hiểu được cái điên đảo từ trước tới giờ của chúng ta là gì. Rồi mới lấy hoa đốm giấc mộng làm phương tiện thiện xảo mà độ cho người.

Cái tâm phân biệt, cái mê của mình, dầu có điên đảo cỡ nào cũng đều là cái mê ngay trên cái giác, hoa đốm có nhiều cỡ nào cũng là vọng thấy ngay trên hư không. Cho nên, ngay nơi cái tâm phân biệt là tâm vô phân biệt, ngay nơi cái mê là cái giác, ngay nơi hoa đốm là hư không, ngay nơi những sắc tướng sanh tử là tánh giác Niết bàn.

Thiền định thiền quán cho sâu để thấy ra cái ‘ngay nơi’ này, bèn thấy và sống được cái “tâm Như Lai không tăng không giảm” đang hiện tiền này:

Diệu trạm tổng trì bất động tôn
Thủ Lăng Nghiêm vương đời ít có
Tiêu điên đảo tưởng trong ức kiếp
Chẳng trải tăng kỳ được Pháp thân.

…………………………………….

5. CHỈ CÁC ĐẠI CÓ THẾ DUNG NHAU.

Phú Lâu Na, ông lại hỏi rằng đất, nước, lửa, gió, bản tánh viên dung, toàn khắp pháp giới nhưng nghi tại sao tánh nước, tánh lửa lại không lấn diệt lẫn nhau. Lại nêu ra hư không và đất đai đều toàn khắp pháp giới thì làm sao dung nhau được.
Phú Lâu Na, ví như hư không, thể nó chẳng phải các tướng mà chẳng ngăn cản các tướng phát huy. Tại sao như vậy ? Phú Lâu Na, trong hư không bao la kia, mặt trời thì chiếu sáng, mây tụ thì tối, gió thổi thì động, mặt trời chiếu thì sáng, tạnh ráo thì trong, hơi đọng thì đục, bụi nỗi thì mịt mù, nước dừng thì trong.

Ý ông thế nào ? Các thứ tướng hữu vi như vậy là nhân các thứ kia sanh, hay nhân hư không mà có ? Phú Lâu Na, nếu do các thứ kia sanh, thì khi mặt trời chiếu soi đã là mặt trời sáng thì mười phương thế giới đồng là sắc của mặt trời, làm sao ở giữa hư không lại còn thấy mặt trời tròn ? Nếu là hư không sáng, thì hư không phải tự chiếu sáng lấy, thế sao giữa đêm hay lúc mây mù lại chẳng có chiếu sáng ? Phải biết cái sáng ấy chẳng phải mặt trời, chẳng phải hư không, mà cũng chẳng khác mặt trời và hư không.
Quán sát các tướng nguyên là hư vọng, không thể chỉ bày, cũng như mong hoa đốm giữa hư không kết thành quả của hư không, làm sao còn hỏi nghĩa lấn diệt lẫn nhau ? Quán tánh nguyên là chân, chỉ là tánh giác diệu minh. Tâm giác diệu minh vốn chẳng phải là nước, lửa, làm sao lại hỏi chẳng dung lẫn nhau ?

Tánh giác diệu minh chân thật cũng lại như vậy. Ông phát minh ra hư không thì hư không hiện ; đất, nước, lửa, gió mỗi thứ mỗi phát minh thì mỗi mỗi thứ hiện ; nếu cùng phát minh thì cùng có hiện.
Thế nào là cùng có hiện ra ? Phú Lâu Na, như trong một chỗ có nước hiện một bóng mặt trời, một người đi về hướng Đông, một người đi về hướng Tây, thì mỗi bên đều có mặt trời đi theo mình, một cái ở Đông một cái ở Tây, không có chuẩn đích nhất định.

 Không nên hỏi rằng, mặt trời chỉ có một, tại sao mỗi cái đi theo mỗi người ? Mặt trời đã thành hai, vì sao khi hiện chỉ có một ? Quanh quẩn hư vọng như thế, không thể lấy gì làm bằng cứ.

……………………………………….

Các tướng hữu vi, đất nước lửa gió là vô tự tánh. Vì vô tự tánh nên chẳng đến nhau, chẳng ngăn ngại nhau, chẳng lấn diệt lẫn nhau. Các tướng là hư vọng, không thể nắm bắt chỉ bày, chỉ vọng thấy thì làm sao xâm hại lẫn nhau? Như hoa đốm giữa hư không, chúng chẳng ngăn ngại nhau và cái vọng thấy của người này chẳng ngăn ngại cái vọng thấy của người kia. Ngay cả cái vọng thấy cọng nghiệp thì có dính dáng gì đến thực tại mà ngăn ngại nhau.

Còn thực tại chỉ là tánh giác diệu minh, vốn chằng phải lửa hay nước, chẳng phải bất cứ tướng nào. Tánh giác diệu minh là Một Tướng, Vô Tướng.

Trong thực tại tánh giác diệu minh Một Tướng Vô Tướng hoàn toàn không ngăn ngại ấy, các tướng có hư vọng được phát minh ra thì các tướng ấy cũng không ngăn ngại lẫn nhau, chồng lấn lẫn nhau. Hoa đốm không thể thành quả, giấc mộng không thể thành sự vật, làm sao lấn diệt lẫn nhau.

Bóng mặt trời trong nước không ở phương Đông, không ở phương Tây, không ở đâu cả, không có chuẩn đích nhất định, không thể lấy gì làm bằng cứ. Bóng mặt trời là không có chỗ trụ như tánh Không không có chỗ trụ.

Thấy được các căn, trần, thức, các đại không ở đâu và không đi đến đâu, như huyễn như mộng, bèn giải thoát khỏi sanh tử hoa đốm vọng thấy. Và ngay chỗ thấy huyễn, thấy mộng ấy là tánh Giác Một
tướng Vô tướng, như ngay chỗ hoa đốm chính là hư không mười phương.

Khi một niệm đất nước lửa gió khởi lên, phát minh ra, thấy ngay nó là vô sanh, bèn tức thì giải thoát.

……………………………………..

6. CHỈ TÁNH DIỆU MINH LÀ NHƯ LAI TẠNG, LÌA
CẢ HAI NGHĨA “ CHẲNG PHẢI” VÀ “ TỨC LÀ ”.

Phú Lâu Na, ông lấy cái sắc, cái không lấn đoạt lẫn nhau trong Như Lai tạng thì Như Lai tạng theo ông mà làm sắc làm không, toàn khắp pháp giới. Thế nên trong đó, gió thì động, hư không thì yên lặng, mặt trời thì sáng, mây che thì tối. Chúng sanh mê muội, trái với giác, hợp với trần, nên phát ra trần lao mà có các tướng thế gian.
Ta thì lấy tánh giác diệu minh chẳng sanh chẳng diệt hợp nhất với Như Lai tạng. Như Lai tạng ấy chỉ là tánh diệu giác minh tròn vẹn chiếu khắp pháp giới.
Thế nên trong ấy một là vô lượng, vô lượng là một, trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ, đạo tràng bất động khắp mười phương thế giới. Thân trùm cả mười phương hư không vô tận, nơi đầu một mảy lông thị hiện cõi Phật, ngồi trong vi trần chuyển bánh xe pháp lớn. Diệt trần hợp giác nên tánh Chân Như Diệu Gíac sáng tỏ hiện bày.

………………………………..

Nơi chúng sanh, tâm phân biệt tạo thành căn, trần, thức và các đại lấn đoạt lẫn nhau hiện tướng sanh tử trùng trùng. Đó là trái với giác, hợp với trần mà ra nông nổi.

Trong Như Lai tạng mà “phát minh” cái sắc, cái không thì Như Lai tạng theo ông mà làm sắc làm không, toàn khắp pháp giới. Còn trong Như Lai tạng mà phát minh tánh giác diệu minh thì tất cả là
tánh giác diệu minh. Như Lai tạng là vô ngại, vô ngại với cả sanh tử và Niết bàn. Hãy thấy cho ra nơi cái sắc cái không bản tánh vô ngại ấy.

Bậc giác ngộ thì vẫn sống trong cùng một thực tại ấy, nhưng lại trái với trần hợp với giác, chuyển vật tức Như Lai. Nghĩa là lấy tánh Diệu Minh bất sanh bất diệt gồm tất cả vũ trụ này hợp nhất với Như
Lai tạng, chuyển tất cả tướng về tánh, để chỉ còn một tánh diệu giác minh tròn vẹn chiếu khắp pháp giới. Chuyển tất cả tướng về “ thật tướng của tất cả các pháp” , tức là về tánh thì tất cả tướng đều là tánh tất cả các pháp đều là Chân Như.

Với tâm thức nhiễm ô, cảnh giới của chúng sanh thì ngăn ngại, lấn đoạt lẫn nhau giữa các tướng. Với tâm thức thanh tịnh, các tướng thì vô tự tánh, như huyễn nên vô ngại với nhau. Vô ngại cho đến ở những cấp độ cuối cùng là cảnh giới sự sự vô ngại : “ một là vô lượng, vô lượng là một, trong nhỏ hiện lớn trong lớn hiện nhỏ, đạo tràng bất động khắp mười phương thế giới… .nơi đầu một mảy lông thị hiện cõi Phật, ngồi trong vi trần chuyển bánh xe pháp lớn” .

Kho tàng pháp giới này vẫn thường trụ trước mắt mỗi chúng ta. Hiện bày hay không, và hiện bày đến đâu là do công phu “ diệt trần hợp giác’’ của mỗi chúng ta.

……………………………………

Nhưng Như Lai tạng bổn diệu viên tâm, chẳng phải tâm, chẳng phải hư không, chẳng phải đất, chẳng phải nước, chẳng phải lửa, chẳng phải gió, chẳng phải mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, chẳng phải sắc thanh hương vị xúc pháp, chẳng phải nhãn thức giới cho đến chẳng phải ý thức giới, chẳng phải minh, vô minh, chẳng phải hết minh, hết vô minh ; như vậy cho đến chẳng phải lão, chẳng phải tử, chẳng phải hết lão tử, chẳng phải khổ, chẳng phải tập, chẳng phải diệt, chẳng phải đạo, chẳng phải trí, chẳng phải đắc. Chẳng phải bố thí, chẳng phải trì giới, chẳng phải tinh tấn, chẳng phải nhẫn nhục, chẳng phải thiền định, chẳng phải trí huệ, chẳng phải ba la mật đa, như thế cho đến chẳng phải Như Lai, ứng Cúng, Chánh Biến Tri, chẳng phải Đại Niết bàn, chẳng phải Thường, chẳng phải Lạc, chẳng phải Ngã, chẳng phải Tịnh.

Do đều chẳng phải pháp thế gian và pháp xuất thế gian nên tức là Như Lai tạng diệu minh nguyên tâm, tức là tâm, tức là không, tức là đất, tức là nước, tức là lửa, tức là gió, tức là mắt tai mũi lưỡi thân ý, tức là sắc thanh hương vị xúc pháp, tức là nhãn thức giới cho đến tức là ý thức giới, tức là minh, vô minh, tức là hết minh, hết vô minh, như vậy cho đến tức là lão, tức là tử, tức là hết lão tử, tức là khổ, tức là tập, tức là diệt, tức là đạo, tức là trí, tức là đắc, tức là bố thi, trì giới, tỉnh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí huệ, tức là ba la mật đa, như thế cho đến tức là Như Lai, ứng Cúng, Chánh Biến Tri, tức là Đại Niết bàn, tức là Thường, tức là Lạc, tức là Ngã, tức là Tịnh.

Do đều tức là pháp thế gian và pháp xuất thế gian nên tức là Như Lai tạng diệu minh nguyên tâm, lìa tức là, lìa chẳng phải, là tức là, là chẳng phải.

Làm sao chúng sanh trong ba cõi và hàng Thanh Văn, Duyên Giác xuất thế gian lấy cái tâm có chỗ biết mà đo lường Giác ngộ vô thượng của Như Lai và lấy ngôn ngữ thế gian mà vào được tri kiến Phật.

……………………………………..

Như Lai tạng diệu chân như tánh chẳng phải là tất cả pháp thế gian và xuất thế gian. Đây là quá trình thiền định và thiền quán đưa mọi tướng về tánh Không, để trực tiếp chứng ngộ tánh Không. Nhưng không phải đi hết quá trình theo thứ tự các pháp thế gian rồi đến các pháp xuất thế gian như vậy.

Vì tánh Không, một phương diện của Như Lai tạng, là bản tánh của tất cả mọi sự tướng, nên chỉ cần đi thật sâu vào một sự tướng là chúng ta có thể bắt gặp tánh Không. Chẳng hạn lão, tử. Đi sâu vào lão hay tử cho đến tận cùng, chúng ta sẽ bắt gặp cái “ chẳng phải lão hay tử” . Cái chẳng phải ấy là tánh Không. Thế nên chỉ cần đi sâu vào một pháp, thấy thật tướng của nó, liền được giải thoát, tức là giải thoát khỏi cái vọng thấy từ trước đến nay.

Chứng ngộ được “ chẳng phải” tức là chứng ngộ tánh Không.

Nhưng với Đại thừa, tánh Không cũng là tánh Như, do đó thực tại tối hậu mới được gọi là Chân Không Diệu Hữu. Hành giả còn phải thấy cho được mặt kia của tánh Không là tánh Như. Tu chứng mặt nào trước, hay đồng thời một lần cả hai, điều này tùy vào căn cơ và đường lối tu hành của hành giả.

Như một tấm gương, để thấy được tấm gương, phải từ bỏ sự bám chấp vào các bóng. Bóng này chẳng phải gương, bóng kia chẳng phải gương, khi từ bỏ hết mọi bóng, người ta thấy tấm gương. Khi thấy
tấm gương tánh Không rồi, người ta nhìn kỹ lại các bóng, bóng nào cũng là gương, đây là tánh Như.

Ở đây chỉ nói về một mặt, một khía cạnh “ tức là” hay tánh Như, hay cái “ như thực” , hay “ thật tế” (chữ trong Kinh Đại Bát Nhã), hay “ sự vật đúng như nó là” ….để thấy sự tu hành chỉ là chuyện hằng
ngày, rất đời thường chứ chẳng phải là đời sống được che đậy bằng những danh từ, thuật ngữ.

Nhìn một sự vật gì hay một việc gì mà thoát ngoài thương ghét, lấy bỏ, đặt tên, phê phán, binh vực… nghĩa là khách quan hoàn toàn, như một tấm gương không có ta và cái của ta, thì đây là tánh thấy hay là tánh Không, tánh Như. Cái nhẫn rốt ráo của tâm không khởi một niệm này là tánh thấy. Đây cũng là cái nhìn “ chuyển vật” , nhưng chuyển về tánh Như vô ngã vô pháp của nó, chứ không chuyển để sanh thêm tưởng khác, nhiều vật khác.

Cái thấy của các bậc giải thoát và các bậc giác ngộ thì “ lìa tức là, lìa chẳng phải, là tức là, là chẳng phải” , đó là nơi “ đường ngôn ngữ dứt, chỗ tâm hành diệt” , cái nhẫn rốt ráo và cũng là sự tự do rốt ráo khắp cả vậy.

……………………………………..

Ví như đàn cầm, sắt, không hầu, tỳ bà, tuy có âm thanh vi diệu, mà không có ngón tay vi diệu, rốt cuộc chẳng phát ra được. Ông và chúng sanh cũng như vậy đó. Chân tâm bảo giác mỗi người đều sẳn đủ, thế mà khi ta ấn ngón tay thì hải ấn phát quang, còn các ông vừa mới phát tâm thì trần lao liền nổi.

Do chẳng chuyên cần cầu đạo Vô thượng giác, ưa thích Tiểu thừa, được chút ít đã cho là đủ.

…………………………………..

Toàn thể pháp giới là Như Lai tạng diệu chân như tánh, như cây đàn vi diệu, nhưng không có ngón tay vi diệu thì âm thanh vi diệu chẳng phát ra. Chân tâm bảo giác mỗi người đều sẳn đủ như Phật
nhưng không biết nên vụng về chẳng tìm ra diệu dụng.

Hải ấn tam muội thường được nói trong Kinh Hoa Nghiêm. Hải ấn là biển lớn mà tất cả các pháp phải in vào để có sự hiện hữu của chúng. Hải ấn là pháp giới như thực.

Với người ngộ nhập pháp giới thì chạm vào pháp giới, chạm vào một sắc, một thanh, hương, vị, xúc, pháp thì pháp giới phát quang, hiển bày toàn bộ pháp giới Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Với người tâm
thức còn bị trói buộc, khi chạm vào bất cứ cái gì của pháp giới thì trần lao phiền não phát ra.

Tâm ấn vào tâm thì hải ấn phát quang, bởi vì có cái gì chẳng phải là Tâm! Khi đã khám phá toàn bộ tấm gương thì soi mặt vào đó bèn thây tất cả bóng là mình, xưa này nào có ai khác!

Không tu thì làm sao có Tự thọ dụng tam muội để du hý trong biển lớn Phật pháp, uổng lắm thay !

Và chúng sanh thì tội nghiệp thay, đáng thương xót thay: vừa thấy bất cứ cái gì, đụng vào bất cứ cái gì thì trần lao liền khởi.

……………………………………..

MỤC IX. CHỈ MÊ NGỘ KHÔNG CÓ NHÂN,
HẾT MÊ LÀ GIÁC NGỘ, DIỄN NHÃ ĐẠT ĐA.

Phú Lâu Na thưa : Chân tâm bảo giác tròn sáng, thanh tịnh mầu diệu của con và của Như Lai tròn đầy sẵn đủ không hai, thế mà con trước kia mắc lấy vọng tưởng từ vô thủy, ở lâu trong luân hồi, nay được sự chỉ dạy của Phật nhưng chưa rốt ráo. Thế Tôn thì tất cả các vọng đều diệt sạch, chỉ còn một chân thường mầu diệu. Xin hỏi Như Lai, tất cả chúng sanh nhân đâu có vọng, tự che lấp tánh diệu minh mà phải chịu chìm đắm như vậy ?
Phật bảo Phú Lâu Na : Ông tuy trừ được nghi, mà các lầm còn sót vẫn chưa hết. Nay ta lại lấy những việc trước mắt trong thế gian mà hỏi ông.
Ông há chẳng nghe trong thành Thất La Phiệt có chàng Diễn Nhã Đạt Đa một buổi sáng lấy cái gương soi mặt, bỗng thích cái đầu trong gương, lông mày và con mắt có thể thấy được, rồi giận trách cái đầu của mình sao không thấy mặt mày, cho đó là yêu quái, không vì cớ gì phát điên cuồng bỏ chạy.

Ý ông thế nào ? Người ấy vì nguyên nhân gì mà vô cớ điên chạy ?
Phú Lâu Na thưa : Đó là tâm người ấy điên cuồng, chứ không có lý do nào khác.
Phật dạy : Tánh diệu giác viên minh, vốn hoàn hảo khắp cả, sáng tỏ, mầu diệu. Thế mà đã gọi là vọng thì làm sao có nhân, nếu có nhân vào đâu thì làm sao gọi là vọng ? Chỉ tự các vọng tưởng xoay vần làm nhân cho nhau, từ cái mê tích chứa thêm mê, trải qua số kiếp nhiều như bụi.

Tuy Phật chỉ rõ ra, vẫn còn chưa thể trở lại. Nguyên nhân của mê chỉ nhân mê mà tự có. Tỉnh ngộ cái mê vốn không nhân, vọng nào có chỗ nương dựa. Còn không có cái gì sanh ra, thì muốn sự diệt nào ?

……………………………………

Chúng sanh là chàng Diễn Nhã Đạt Đa. Mê vọng thứ nhất là không tin mình có mặt mày, không tin mình có bổn lai diện mục, khuôn mặt xưa nay của mình. Từ cái mê vọng đầu tiên đó, một hôm soi gương thấy mặt mày trong gương bèn thích cái đầu trong gương. Nổi giận trách cái đầu của mình sao không thấy mặt mày, rồi tin rằng không có mặt mày là chuyện bình thường. Và rồi nhìn cái mặt mày
thấy trong gương này là điều kỳ dị, hẳn là yêu quái, phát điên bỏ chạy. Với sự hiểu biết do phân biệt mê vọng như vậy thì phát điên bỏ chạy là đúng thôi. Cái chính thật là mình thì do nhiều vọng tưởng đối đãi mà hóa ra sợ phát điên bỏ chạy. Thật không có gì khôi hài cho bằng mà cũng không có gì bi đát cho bằng.

Đức Phật chỉ bày rõ ràng để vô hiệu hóa cái mê lầm hư vọng này : cái mê vọng ấy không nhân vào đâu mà có mà lại làm nhân cho nhau để tích chứa thêm mê lầm vọng tưởng. Chỉ cần quan sát cho thấu nguồn tột đáy mê vọng không có nhân, không nhân đâu mà có cả, như hoa đốm giữa không trung, không từng có chỗ sanh ra, thì muốn diệt thế nào. Thấy được thật tướng của hư vọng thì ngay đó hết vọng.

Tánh diệu giác viên minh, vốn hoàn hảo khắp cả, sáng tỏ mầu diệu, trong đó làm gì có mê vọng và nguyên nhân của mê vọng. Cho nên sắc thanh hương vị xúc pháp trước mắt là khuôn mặt xưa nay của chúng ta, vốn hằng hằng thanh tịnh, có dám thấy và dám nhận hay không, hay cho rằng mình không có mặt mày, còn kia là yêu quái.

……………………………………..

Người được giác ngộ như người khi thức nói việc trong mộng, tâm dầu sáng suốt nhưng đâu có vì nhân duyên gì để nắm lấy vật trong mộng. Huống là cái mê thấy mọi sự hiện giờ chẳng có nguyên nhân, vốn không chỗ có.

Như chàng Diễn Nhã Đạt Đa trong thành kia, đâu có nhân duyên gì mà tự sờ đầu mình rồi bỏ chạy. Bỗng nhiên hết điên thì cái đầu chẳng phải do ở ngoài mà có. Dầu cho chưa hết điên, cái đầu cũng chẳng hề mất.

Phú Lâu Na, tánh vọng là như vậy, không nhân đâu mà có.

Ông chỉ không theo phân biệt thế gian, nghiệp quả và chúng sanh, ba thứ tương tục ấy. Ba duyên mà đoạn, thì ba nhân chẳng sanh, cái điên cuồng của Diễn Nhã Đạt Đa trong tâm ông liền tự hết. Hết tức là Giác ngộ, cái tâm tuyệt vời sáng tỏ trong sạch, vốn khắp cùng pháp giới, chẳng từ người khác mà được, nào phải nhọc nhằn khẩn thiết tu chứng gì đâu ?

………………………………………

Thế gian, nghiệp quả và chúng sanh tương tục tạo thành sanh tử. Nhưng cả ba đều do vọng tưởng phân biệt điên đảo mà thành. Như những hành động của chàng Diễn Nhã Đạt Đa đều là vọng tưởng phân biệt và những phản ứng của vọng tưởng phân biệt mà thành.

Sanh tử là việc điên cuồng trong mộng, không do đâu, nhân duyên gì mà có. Thấy được là mộng và mộng thì không có tác dụng gì, mộng ấy không có nguyên nhân, căn cứ, bèn là giải thoát. Tu là tin mình đang sống trong mộng, nên không thương ghét, không tạo nghiệp, không thể tạo tác cái gì và cũng chẳng thề phá hủy cái gì. Rồi đưa tất cả giấc mộng đang thấy này trở về cội nguồn ánh sáng tức là tánh Minh Không của nó, bèn là giải thoát khỏi sanh tử như mộng. Khi chứng được như mộng, đó là vô sanh pháp nhẫn.

Mộng là do phân biệt mà có, điên cuồng là do phân biệt mà có. Nhưng phân biệt thì không có nhân, không có căn cứ gốc gác. Thấy được sự không có nhân, không có tự tánh của mộng và điên cuồng ngay đó liền giải thoát. Bởi xưa nay chỉ là Chân tâm bảo giác tuyệt vời sáng tỏ trong sạch, cùng khắp pháp giới, vốn là giác ngộ, có mộng có điên nào đâu, cho nên khi biết sanh tử là mộng, thì sanh tử trói buộc tự hết, hết tức giác ngộ, mới biết pháp giới vốn giác ngộ xưa nay.

Khi thật biết là mộng thì mọi sự trói buộc và cái đối trị của chúng là sự tu hành nhọc nhằn khẩn thiết chấm dứt vì đều là việc trong mộng. Có lâu dài đến a tăng kỳ kiếp thì cũng là mộng mà thôi.

……………………………..

Ví như người ở trong áo mình buộc một hạt châu như ý mà
chẳng tự biết nên phải đi xin ăn lưu lạc phương xa, nghèo khổ đói rách. Tuy nghèo khổ cùng cực nhưng hạt châu không hề mất. Bỗng có người trí chỉ bày cho hạt châu ấy thì chỗ mong cầu đều toại nguyện, trở nên rất giàu có. Mới biết hạt châu thần chẳng phải do ngoài mà được.

………………………………….

Hạt châu như ý Phật tâm này bao trùm cả ba cõi sanh tử, không có cái gì ở ngoài nó, không chỉ sự vật mà cả những ý tưởng, các mong cầu, cả những tư tưởng lan man vô ích. Tất cả đều là Nó, thế thì chẳng phải “ tất cả chỗ mong cầu đều toại nguyện” sao? Chẳng phải “ trở nên rất giàu có” , giàu có đến vô tận sao ?

Hạt châu ánh ra năm màu, đó là năm ấm, ánh ra căn trần thức, bảy đại, tất cả thế gian, không có gì không phải là nó, đó là “ như ý ” , là vô tận tạng của Như Lai tạng.

……………………………….

MỤC X. NHÂN DUYÊN, TỰ NHIÊN ĐỀU LÀ
HÝ LUẬN.

A. XƯA NAY KHÔNG VỌNG.

Liền khi ấy A Nan ở trong đại chúng đảnh lễ chân Phật rồi đứng dậy bạch Phật: Thế Tôn hiện nói về các nghiệp sát, đạo, dâm, ba duyên đã đoạn nên ba nhân chẳng sanh. Tánh điên trong tâm chàng Diễn Nhã Đạt Đa tự hết, hết tức là Giác ngộ, chẳng từ ai mà được. Đây là nhân duyên, thật là rõ ràng, tại sao Như Lai vội bỏ nghĩa nhân duyên ? Chính con cũng từ nhân duyên mà tâm được khai ngộ.
Bạch Thế Tôn, nghĩa ấy đâu chỉ đối với hàng Thanh Văn hữu học ít tuổi như chúng con, mà nay ở trong hội này như các ngài Đại Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất, Tu Bồ Đề….nghe được nghĩa nhân duyên của Phật từ trưởng lão Phạm Chí mà tâm phát khai ngộ, được thành vô lậu.

Nay Phật dạy Giác ngộ chẳng do nhân duyên thì thuyết tự nhiên của nhóm Câu Xá Ly ở thành Vương Xá lại thành nghĩa đệ nhất. Cúi mong Phật đại bi khai phát cho chỗ mê mờ của chúng con.

………………………………….

Đây vẫn là “ lỗi lầm vi tế” , ngài A Nan đã nói khi phát nguyện. Lỗi lầm vi tế ấy là sở tri chướng ngăn che cái biết đích thực.

Nghe Đức Phật nói “ hết tức Giác ngộ” nên vẫn nghĩ rằng Giác ngộ do nhân duyên là “ hết sự điên cuồng” . Thật ra Giác ngộ là Như Lai tạng diệu chân như tánh, thường trụ như vậy dầu có hay không có sự điên cuồng. Sự điên cuồng không có nhân chẳng hề làm nhiễm ô được Giác ngộ. Thế nên Giác ngộ vẫn là Giác ngộ trong khi vẫn có sự điên cuồng không có nhân của chúng sanh.

Nhưng chẳng phải nhân duyên không có nghĩa là tự nhiên. Giác ngộ vốn sẵn, nhưng không phải là tất cả chúng sanh đều tự nhiên đã giác ngộ. Giác ngộ mà tự nhiên vốn sẵn thì hóa ra sanh tử cũng tự
nhiên vốn sẵn?

……………………………….

Phật bảo A Nan : Như Diễn Nhã Đạt Đa trong thành, nếu nhân duyên tánh cuồng mà diệt trừ được thì cái tánh không cuồng tự nhiên hiện ra. Cái lý nhân duyên và tự nhiên rốt cuộc chỉ là như vậy.

A Nan, cái đầu Diễn Nhã Đạt Đa vốn tự nhiên, vốn tự như vậy, có khi nào mà không tự nhiên đâu, thì vì nhân duyên gì mà sợ cái đầu, phát điên cuồng bỏ chạy ?

Nếu cái đầu vẫn tự nhiên, do nhân duyên nên phát cuồng, thì sao không tự nhiên do nhân duyên mà mất. Cái đầu vốn có sẵn không mất còn sự điên cuồng sợ hãi vọng có ra, chứ nào có bao giờ thay đổi gì mà phải nhờ đến nhân duyên.

Nếu tánh cuồng vốn tự nhiên, vốn có sẵn sự điên cuồng thì cái cuồng ấy núp ở chỗ nào ? Nếu tánh không điên cuồng là tự nhiên, cái đầu vốn không sao cả, tại sao phát cuồng bỏ chạy ?

………………………………………..

Tánh không cuồng và cái đầu vốn tự nhiên có sẵn từ xưa nay như vậy. Tánh cuồng bỏ chạy và sự sợ hãi cái đầu trong gương, sợ hãi trước giờ mình không có đầu thì chẳng phải nhân duyên cũng chẳng
phải tự nhiên và không từ đâu sanh ra cả.

Như Lai tạng diệu chân như tánh thì vốn có sẵn tự nhiên từ xưa nay như vậy. Còn sanh tử do tánh cuồng phân biệt mà có ra, cả hai sanh tử và tánh cuồng phân biệt thì không do đâu cả, không vì nhân duyên nào cả, không gốc rễ, mối manh. Vì không có nhân duyên nên vọng có, không thật, rốt ráo là vô sanh.

Sanh tử và tánh cuồng phân biệt chỉ là hý luận, như hý luận tìm hiểu về lông rùa sừng thỏ. “Nếu ngộ cái đầu vốn sẵn như thế, biết rõ do đâu phát cuồng bỏ chạy” bèn phát cười từ đây cho đến mãi mãi về sau.

……………………………………….

B. ĐƯA VÀO GIÁC NGỘ.

Thế nên ta nói : Ba duyên lìa dứt, tức là tâm giác ngộ. Tâm giác ngộ sanh, tâm sanh diệt diệt, đó chỉ là sanh diệt. Diệt và sanh đều hết ráo, đây là vô công dụng đạo.
Nếu có tự nhiên, như vậy là tâm tự nhiên sanh, tâm sanh diệt diệt, thế cũng là có sanh diệt. Phải không có sự sanh diệt mới gọi là tự nhiên.
Cũng như thế gian, các tướng lìa nhau hòa hợp lại thành một thể, gọi là tánh hòa hợp, còn cái chẳng hòa hợp gọi là tánh bản nhiên. Bản nhiên chẳng phải bản nhiên, hòa hợp chẳng phải hòa hợp. Hòa hợp và bản nhiên đều lìa, lìa và hợp đều chẳng phải. Câu nói ấy mới gọi là pháp không hý luận.

Niết bàn, Giác ngộ còn xa, nếu ông không trải qua nhiều kiếp siêng năng tu chứng, thì tuy có ghi nhớ diệu lý thanh tịnh trong mười hai bộ kinh của mười phương Như Lai như số cát sông Hằng cũng chỉ tăng thêm hý luận.

………………………………

Quan niệm rằng ba duyên lìa dứt, tức là tâm sanh diệt diệt, liền đó tâm giác ngộ hiển lộ, cho rằng đây là tâm giác ngộ sanh, thì đó là cái mê lầm. Vì có bao giờ mà tâm giác ngộ chẳng hiển lộ, tâm sanh diệt có bao giờ là thật để có diệt. Không còn ý niệm sanh và diệt nghĩa là không còn ý niệm về sự tương tục của thời gian, đây mới là vô công dụng đạo, vô sanh pháp nhẫn.

Cái mê lầm vi tế hơn là có tâm tự nhiên hay tánh bản nhiên có sẵn. Nhưng dù có sẵn thì vẫn sanh ra ở một thời điểm rất xa xôi nào đó, một khởi thủy nào đó. Rồi từ đó có vũ trụ, thế giới sanh ra. Muốn
trở lại với tâm tự nhiên hay tánh bản nhiên này thì phải đưa vũ trụ về nguồn gốc của nó là tâm tự nhiên. Tâm tự nhiên đã có sanh, dù từ vô thủy, thì phải có tâm sanh diệt sau đó diệt. Thế cũng là có sanh diệt, có thời gian.

“ Phải không có sự sanh diệt mới gọi là tự nhiên” . Tự nhiên là xưa như vậy, nay như vậy, và mai sau như vậy.Thấy cái như vậy trước mắt, thì “ tâm quá khứ chẳng thể đắc, tâm hiện tại chẳng thể đắc, tâm vị lai chẳng thể đắc” , chẳng còn mảy mún thời gian.

Áp dụng vào đời người. Nếu thấy có sanh ra vào một kiếp nào đó, có khổ đau, có sanh tử, có tu hành và có giải thoát, thì đây vẫn là có sanh diệt, có sự tương tục của thời gian.

Ở đoạn chót, nói về thế gian là sự hòa hợp thành một thể một bên và bên kia là cái chẳng hòa hợp, gọi là tánh bản nhiên. Ngộ được bản nhiên chẳng phải là bản nhiên, hoà hợp chẳng phải là hòa hợp, bèn chứng ngộ được tánh không hai. Trong đó, không có hòa hợp và bản nhiên, nên lìa hay hợp đều chẳng phải. Không có một động tác nào cả của tâm thức tánh cuồng phân biệt nào nữa, thì không có thời gian. Đây gọi là Vô tác, một trong ba môn Không, Vô tướng, Vô tác của cả
Đại thừa lẫn Thanh Văn.

…………………………….

Ông tuy luận bàn nghĩa nhân duyên, tự nhiên, chắc chắn rõ ràng, người đời xưng ông là đa văn bậc nhất. Vậy mà lấy cái đa văn huân tập nhiều đời đó cũng không thể khỏi được nạn Ma Đăng Già, phải đợi thần chú Phật đảnh của ta khiến cho lửa dâm trong tâm Ma Đăng Già liền hết, đắc A Na Hàm, ở trong pháp ta thành rừng tinh tấn, sông ái cạn khô, mới khiến ông được giải thoát.

Thế nên A Nan, tuy ông nhiều kiếp ghi nhớ những bí mật diệu nghiêm của Như Lai, không bằng một ngày tu nghiệp vô lậu xa lìa thế gian hai thứ khổ ghét thương. Như Ma Đăng Già trước là dâm nữ do sức thần chú mà tiêu tan ái dục, nay ở trong Phật pháp có tên là Tánh Tỳ kheo ni. Cùng với Da Du Đà La là mẹ của La Hầu La, đồng ngộ nhân đời trước, biết tham ái là nhân khiến trải qua nhiều đời chịu khổ. Một niệm huân tu pháp thiện vô lậu, nên một người đuợc ra khỏi trói buộc, còn một người được thọ ký. Sao ông còn tự coi thường mình, ở mãi trong vòng nghe, thấy.

……………………………………

“ Không bằng một ngày tu nghiệp vô lậu” , “ một niệm huân tu pháp thiện vô lậu” , nghiệp vô lậu hay pháp thiện vô lậu là tâm nhân địa sắp giảng nói ở sau. Nhưng tâm nhân địa này cũng đã được nói đến từ đầu kinh, đó là Như Lai tạng diệu chân như tánh hay pháp thân mà ngài A Nan đã đốn ngộ. ở đây vì đời sau mà nói thêm cho rõ ràng về cái nền tảng để tu hành, còn đốn hay tiệm, nhanh hay chậm là do hành giả.

Vả lại, tâm nhân địa chỗ nào cũng có, bước bước nào cũng là bước trên tâm nhân địa, nên nói về tâm nhân địa thì ở chỗ nào cũng nên nói, không dư không thiếu gì.

Một niệm tu nghiệp vô lậu là thế nào? Xa lìa hai thứ khổ ghét thương là thế nào? Không vọng tưởng phân biệt thì không có tướng để ghét thương, đó là tu nghiệp vô lậu. Khi không có tưởng, không có tướng đó là “ ba duyên lìa dứt, tức là tâm giác ngộ” .

Thiền Sư Cảm Thành (?_860), tổ thứ hai dòng Thiền Vô Ngôn Thông nói về tâm nhân địa như sau.

“Một lần có vị Tăng đến hỏi : Thế nào là Phật ?
Sư đáp : Khắp tất cả chỗ.
Lại hỏi : Thế nào là tâm Phật ?
Sư đáp : Chưa từng che dấu.”

……………………………………

MỤC XI. CHỈ NGHĨA QUYẾT ĐỊNH.

A Nan và cả đại chúng nghe lời Phật dạy, nghi lầm tiêu trừ, tâm ngộ thật tướng, thân ý khinh an, được sự chưa từng có. Rồi lại rơi nước mắt, đảnh lễ dưới chân Phật, quỳ gối chấp tay mà bạch Phật rằng: Đức Vô Thượng Đại bi, Thanh tịnh Bảo Vương, khéo khai mở tâm chúng con, hay dùng các nhân duyên phương tiện như thế dẫn dắt những kẻ chìm đắm trong tối tăm ra khỏi bể khổ.

Bạch Thế Tôn, nay con tuy được vâng nghe pháp âm như thế, biết Như Lai tạng diệu giác minh tâm cùng khắp mười phương thế giới, trùm chứa các cõi nước bảo nghiêm thanh tịnh của chư Phật mưòi phưong, Như Lai vẫn còn trách con đa văn mà không có công dụng, không kịp thời tu tập. Nay con giống như người long đong phiêu bạt, bỗng được vị thiên vưong ban cho cái nhà đẹp. Tuy được ngôi nhà lớn, nhưng cần yếu là phải do cửa mà vào. Cúi mong Như Lai đại bi chỉ cho chúng con và những người còn tăm tối trong hội này, rời bỏ Tiểu thừa, trọn vẹn được con đường bổn nguyên phát tâm vô dư Niết bàn của Như Lai và khiến cho hàng hữu học biết theo đâu nhiếp phục các sự bám níu (phan duyên) lâu đời, được tổng trì đà la ni, nhập tri kiến Phật.
Thưa lời ấy xong, năm vóc gieo xuống đất, trong hội nhất tâm trông chờ ý chỉ từ bi của Phật.

…………………………………

Ngài A Nan mặc dầu đã vào được nhà Như Lai, nhưng vì đại chúng mà hỏi cho rõ cửa vào, làm sao phát được tâm bổn nguyên để đi trên con đường Phật đạo cho đến cuối cùng. Con đường ấy là Pháp
thân của chư Phật, làm sao để bước vào Pháp thân ?

…………………………………

Bấy giờ Thế Tôn thương xót hàng Thanh Văn Duyên Giác trong hội chưa được tự tại nơi tâm Giác ngộ và những chúng sanh phát tâm Giác ngộ (tâm Bồ đề) trong thời mạt pháp về sau, khi Phật đã diệt độ, mà khai thị con đường diệu tu hành Vô thượng thừa, tuyên dạy A Nan và đại chúng rằng :

Các ông quyết định phát tâm Bồ đề, đối với diệu Tam ma đề của Như Lai chẳng sanh mệt mỏi, thì trước hết nên rõ hai nghĩa quyết định ở sơ tâm giác ngộ.

……………………………………

Muốn thành Phật thì phải phát tâm Bồ đề hay tâm Giác ngộ. Nói chung, phát tâm Bồ đề là nguyện đạt đến giác ngộ để độ thoát tất cả chúng sanh. Giác ngộ và tất cả chúng sanh đều nằm trong tâm Bồ đề gồm cả trí huệ và đại bi, vấn đề là làm sao phát tâm cho đúng vào con đường, đúng vào nhân địa thành Phật, bởi vì sơ tâm giác ngộ cũng chính là cứu cánh giác ngộ.

Nhân địa hay nền tảng thành Phật này được nói trong phần mở đầu Kinh Viên Giác như sau :

“Nhân địa pháp hạnh bản khởi của Như Lai và chỗ phát tâm thanh tịnh của Bồ tát, là chỗ trụ trì quang nghiêm của tất cả Như Lai, đó chính là giác địa thanh tịnh của tất cả chúng sanh” . Nhân địa và quả địa ấy là tánh Viên Giác, mà kinh này nói là Như Lai tạng diệu chân như tánh.

Sơ tâm giác ngộ là một với giác ngộ viên mãn. Đây là tánh giác, nền tảng chung của các bậc giác ngộ và tất cả chúng sanh. Đó cũng là nền tảng từ đó xuất sanh căn, trần, thức, các đại. Nền tảng đó là bản
tánh Như Lai tạng của tất cả và bao trùm tất cả.

Những phương tiện tu hành, những con đường tu hành, những pháp môn bề ngoài có vẻ khác nhau, đều phát khởi từ nên tảng này, đi trong nền tảng này, và kết thúc nơi nền tảng bao trùm toàn khẳp này.

……………………………………

1. TÂM NHÂN ĐỊA LÀ TÁNH KHÔNG SANH
KHÔNG DIỆT.

A Nan, nghĩa thứ nhất là : nếu các ông muốn rời bỏ Thanh Văn, tu Bồ tát thừa, nhập tri kiến Phật, thì nên quán sát kỹ cái nhân địa phát tâm và quả địa giác ngộ là đồng hay khác ?
A Nan, nếu ở nơi nhân địa mà lấy cái tâm sanh diệt làm gốc, làm nhân tu hành để cầu quả bất sanh bất diệt của Phật thừa thì thật không thể có chuyện ấy được.

……………………………………….

Tiến trình tu Phật theo Kinh Pháp Hoa là Khai, Thị, Ngộ, Nhập. Các bậc đạo sư khai thị cái bất sanh bất diệt vốn ở nơi chúng ta cho chúng ta. Rồi chúng ta ngộ cái bất sanh bất diệt ấy, sau đó nhập cái
bất sanh bất diệt cho đến cứu cánh.

Thế nên tất cả các tông phái Đại thừa đều lấy nhân địa là cái thấy tánh bất sanh bất diệt ấy cho đến cứu cánh là giác ngộ hoàn toàn.

Không thấy cái nhân địa bất sanh bất diệt này mà tu hành trên một cơ sở sanh diệt thì kết quả chỉ là một loại sanh diệt mà thôi. Bởi thế “ nên quán kỹ cái nhân địa phát tâm và quả địa giác ngộ là đồng
hay khác” . Không khác thì từ đầu con đường cho đến cuối cùng chỉ có một vị Giác ngộ, một vị Phật mà thôi.

Khi thấy trực tiếp được Như Lai tạng diệu chân như tánh bất sanh bất diệt này thì chỗ nào lúc nào cũng thấy được nó, tương ưng, tùy thuận được với nó. Sự thâm nhập này, sự tu hành này được gọi là
Diệu: “ con đường diệu tu hành Vô thượng thừa” .

………………………………………

Do nghĩa ấy, ông phải thấy rõ các pháp có thể tạo tác ở thế gian đều theo sự biến diệt. A Nan, ông xem các pháp có thể làm ra ở thế gian, có cái gì là không hoại diệt, nhưng không hề nghe hư không tan hoại. Vì sao thế ? Vì hư không chẳng có thể làm ra, do đó trước sau trọn không hoại diệt vậy.

Trong thân ông tướng cứng là đất, thấm ướt là nước, hơi ấm là lửa, lay động là gió. Do bốn thứ ràng buộc này phân chia Diệu Giác Minh Tâm trong lặng tròn khắp của ông thành ra cái thấy, nghe, biết, nghĩ, từ đầu đến cuối tạo thành năm lớp vẩn đục.

Thế nào là đục ? A Nan, ví như nước trong, thanh khiết bổn nhiên, còn các thứ bụi đất, tro cát bản chất là ngăn ngại. Hai thể chất như vậy thì không hợp nhau được. Có người thế gian lấy bụi đất kia ném vào nước sạch thì đất mất đi ngăn ngại, nước mất thanh khiết, hình trạng hỗn loạn gọi là vẩn đục. Năm lớp vẩn đục của ông cũng giống như vậy.

A Nan, ông thấy hư không khắp cả mười phương thế giới, hư không và cái thấy chẳng phân chia. Có hư không mà không có thật thể, có cái thấy mà không có hay biết, hai bên đan nhau hư vọng mà thành. Đây là lớp thứ nhất gọi là Kiếp trược.

Thân ông hiện bám giữ bốn đại làm thể, che lấp sự thấy nghe hiểu biết khiến bị ngăn ngại, trở lại làm cho đất, nước, lửa, gió thành có cái hay, biết, chúng đan nhau hư vọng mà thành. Đây là lớp thứ hai gọi là Kiến trược.

Lại trong tâm ông, những sự nhớ, biết, học tập mà phát ra thấy biết, dung chứa hiện ra sáu trần. Lìa trần thì không có tướng; lìa hiểu biết thì không có tánh, đan nhau hư vọng mà thành. Đây là lớp thứ ba gọi là Phiền não trược.

Lại tâm ông ngày đêm sanh diệt không ngừng, cái thấy biết thì muốn ở lại thế gian, nhưng nghiệp báo xoay chuyển thì lại thường dời đi các cõi, đan nhau hư vọng mà thành. Đây là lớp thứ tư gọi là Chúng sanh trược.

Cái thấy cái nghe của các ông tánh vốn không khác nhau, do các trần cách trở mà không do đâu lại sanh khác nhau. Trong tánh thì biết nhau mà trong dụng thì trái nhau. Cái đồng và cái khác mất chuẩn đích, đan nhau hư vọng mà thành. Đây là lớp thứ năm, gọi là Mạng trược.

……………………………………….

Các pháp thế gian thấy nghe hay biết được đều sanh diệt. Nhưng chúng có sanh có diệt thì vẫn diễn biến trên nền tảng không sanh không diệt. Như hoa đốm sanh diệt loạn xạ thì sự sanh diệt ấy vẫn xảy ra trên nền tảng hư không. Như tư tưởng đến đi sanh diệt thì những tư tưởng ấy vẫn xảy ra trong không gian bất động của tâm. Biết được nền tảng không sanh diệt của mọi hiện tượng, đó gọi là tánh thấy, là cửa vào, là nhân địa đồng với quả địa không sanh không diệt.

Ngay nơi cái sanh diệt là cái không sanh diệt, ngay nơi sắc là Không, đó là điều phải trực tiếp thấy, nếu muốn thực tu hành.

Khi đã lọt vào thân do bốn đại hợp thành này thì “ do bốn thứ ràng buộc ấy phân chia Diệu Giác Minh Tâm trong lặng tròn khắp của ông thành cái thấy, nghe, biết, nghĩ tạo thành năm lớp vẩn đục” . Vậy thì cái thấy, nghe, biết, nghĩ, nơi các giác quan mà không phân chia, không phân biệt thì chúng hoàn nguyên là Diệu Giác Minh Tâm trong lặng toàn khắp.

Khi đã phân chia thì hư không thành hư không trơ lì, cái thấy thành cái thấy không có hay biết. Hai cái thoái hóa này đan nhau hư vọng mà thành Kiếp trược. Nếu hư không và cái thấy có hay biết, hay
có tánh giác, mà không phân chia, bèn vượt khỏi Kiếp trược mà chứng ngộ Diệu Giác Minh Tâm bổn lai.

Bám giữ bốn đại cho chúng là tác nhân của thấy nghe hiểu biết thành ra cái dụng thấy nghe hiểu biết của tánh giác bị che lấp, do đó cũng không thấy được tánh giác. Nếu thấy được “ tất cả đều là Giác” ,
như Kinh Viên Giác nói, bèn vượt khỏi Kiến trược.

Nhớ, biết, học tập tích chứa trong tâm mà hiện ra sáu trần. Cái thấy biết do đây chỉ là thức, “ các pháp có thể tạo tác ở thế gian đều theo sự biến diệt” , do đó hư vọng. Ngược dòng những cái biến diệt
hư vọng này thì sẽ thấy được tánh giác không biến diệt, do đó vượt qua Phiền não trược.

Thức tâm ngày đêm sanh diệt không ngừng, tạo ra phiền não và nghiệp khiến xoay chuyển trong các cõi. Muốn thoát khỏi Chúng sanh trược hư vọng này, thì phải nhận ra thật tánh của thức sanh diệt này là gì.

Các cái thấy nghe hiểu biết vốn lưu xuất từ tánh giác nên không khác nhau. Biểu hiện ra dụng, ra tướng nên dễ quên mất thể, mất tánh. Sự phân chia thành khác nhau này là hư vọng. Thấy được sự vốn không phân chia này, vì cùng lưu xuất từ nguồn tánh, bèn hoàn nguyên lại tánh giác.

Cái thấy thấy hư không thì cái thấy là hư không, chẳng thể phân chia, bèn bao la trùm khắp như hư không. Đây là sự giải thoát ngay nơi cái thấy.

Chỉ cần tháo mở được một cái trược để hoàn nguyên lại tánh giác như hư không là tất cả trược đều được tháo mở. Thấy những thứ hợp thành một trược là sanh diệt, hư vọng và thấy suốt được cội nguồn của nó thì trược ấy liền được tháo mở.

Thế nên ngay nơi sự trói buộc của một trược thì đó là giải thoát. Đối với Đại thừa, tất cả trói buộc của tướng đều là cơ hội để giải thoát, để thấy tánh.

……………………………………..

A Nan, nay ông muốn cho cái thấy, nghe, hay, biết xa hợp với Thường Lạc Ngã Tịnh của Như Lai, thì trước hết phải lựa bỏ gốc rễ sanh tử, y vào cái không sanh diệt thì tánh trong lặng toàn khắp thành tựu.

Dùng cái trong lặng này mà xoay các thứ sanh diệt hư vọng trở về bản giác. Được tánh không sanh diệt của bản giác thuần sáng làm cái tâm nhân địa, như thế mà sau viên thành quả địa tu chứng.

Như lóng nước đục, đựng trong một đồ chứa để yên lặng mãi không động, thì đất cát tự chìm xuống, nước trong hiện tiền, gọi là ban đầu dẹp phục phiền não khách trần.Loại bỏ hết bùn chỉ còn nước trong, gọi là vĩnh viễn dứt hẳn căn bản vô minh.

Tướng sáng tinh thuần, tất cả biến hiện không còn là phiền não, đều hợp với diệu đức thanh tịnh Niết bàn.

……………………………………….

Muốn cho cái thấy nghe hay biết bắt đầu hợp (hợp từ xa, xa hợp) với Thường Lạc Ngã Tịnh của Phật tánh, thì ngay nơi thấy nghe hay biết không có tơ hào phân biệt nào thì Thường Lạc Ngã Tịnh hiện tiền. Đây là ‘một niệm tương ưng’, nên gọi là xa hợp. Rồi tiếp tục hộ trì cái thấy biết đã hợp với Thường Lạc Ngã Tịnh, thì gọi là tiệm tu hay diệu tu, đây là ‘niệm niệm tương ưng’, cho đến khi hợp nhất hoàn toàn.

Tánh trong lặng là không sanh diệt, bụi đục là thứ sanh diệt. Lóng nước đục, y vào cái không sanh diệt là tánh trong lặng của nước, đây là Chỉ. Dùng cái trong lặng này mà xoay các thứ sanh diệt trở về bản tánh, đây là Quán. Dùng Chỉ, Quán, và Chỉ Quán đồng thời cho tới lúc “ nước trong hiện tiền” , đây là tâm nhân địa.

Tiếp tục y vào tâm nhân địa không sanh không diệt này, “ loại bỏ hết bụi đất sanh diệt, cho đến hoàn toàn chỉ là nước trong, gọi là vĩnh viễn dứt hẳn căn bản vô minh” , đây là tiệm tu trên tâm nhân địa.
Thật ra nhân địa và quả địa là một, chỉ một vị bất sanh bất diệt.

Còn nhanh hay chậm là do nghiệp phiền não chướng và sở tri chướng từng người nhiều hay ít, phương pháp tu hợp hay không hợp, có thầy hướng dẫn hay tự mình.

Cuối cùng, chỉ “ một tướng sáng tinh thuần” , chỉ một tấm gương sáng duy nhất bao trùm tất cả mọi hiện hữu. “ Tất cả biến hiện không còn là phiền não” , tất cả đều là Bồ đề, đều là Giác. Tất cả bóng trong gương đều là gương, tất cả vật trong thế giới bằng vàng đều là vàng. Tất cả đều là diệu đức thanh tịnh Niết bàn.

………………………………………

2. CĂN BẢN PHIỀN NÃO.

Nghĩa thứ hai là : các ông muốn quyết phát tâm Bồ đề, đối với Bồ tát thừa sanh đại dõng mãnh, quyết định từ bỏ các tướng hữu vi, thì phải xét rõ căn bản phiền não, những thứ ấy từ vô thủy đến nay, phát sanh nghiệp và nảy nở ra, là ai làm ai chịu ?
A Nan, ông tu đạo Giác ngộ mà không xét kỹ căn bản phiền não thì không thể biết căn trần hư vọng điên đảo chỗ nào. Chỗ điên đảo còn không biết, làm sao hàng phục, để chứng quả vị Như Lai.
A Nan, ông xem người trong thế gian mở nút (nút: kết), nếu không thấy chỗ thắt nút thì làm sao biết mở. Nhưng không hề nghe hư không bị ông tháo mở bao giờ. Vì sao thế ? Hư – không không có hình tướng, nên không thể thắt, mở.

Thì như ông hiện giờ, sáu thứ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đang làm mai mối cho giặc, tự cướp của báu trong nhà. Do đây mà từ vô thủy chúng sanh thế giới sanh ra ràng buộc, không thể siêu vượt khỏi sự vật thế gian.

…………………………………….

Nghĩa thứ nhất là nhân địa bản giác bất sanh bất diệt, lựa lấy cái ấy mà tu. Nhưng đã là bản giác bất sanh bất diệt thì nó luôn luôn có đó, vậy mà bị phiền não che ám nên không thấy. Cho nên tu không chỉ là trở về trụ nơi bản giác bất sanh bất diệt mà còn phải mở tháo những ngăn chướng phiền não che mờ giữa chúng ta với bản giác.

Phiền não là những thắt nút trong tâm, có sanh có diệt nên có thể tháo mở được. Còn chân tâm bản giác thì như hư không không sanh không diệt nên chẳng thể thắt nút mà cũng chẳng thể tháo mở.

Từ cái vô minh phân chia ban đầu dần dần thành thô nặng ở nơi sáu căn “ làm mai mối cho giặc, tự cướp của báu trong nhà” . Ban đầu là sự phân chia giữa cái biết của tánh giác và hư không, chuyển dần thành ta và thế giới, ta và người khác, trong và ngoài. Rồi những cái bên ngoài thành giặc, có các căn làm mai mối, tự cướp của báu trong nhà. Đâu có biết rằng những cái bên ngoài cũng chính là của báu trong nhà mà vì vô minh phân chia nên không còn nhận ra nữa.

Thật chứng biết tâm mình như hư không thì phiền não làm sao mà thắt nút được trong ấy?

Hãy suy nghĩ cho kỹ, các căn có bao giờ thực sự bị thắt nút chưa? Và nơi căn, ngay đây, thế nào là thắt, thế nào là mở?

……………………………………

3. CHÚNG SANH VÀ THẾ GIỚI, CÔNG ĐỨC SÁU CĂN. 

A Nan, thế nào là chúng sanh và thế giới ? Thế là thời gian dời đổi, giới là không gian phương chốn. Nay ông nên biết những phương Đông, Tây, Nam, Bắc, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc, phương trên, phương dưới là giới. Quá khứ, hiện tại, vị lai là thế. Phương chốn có mười, sự lưu chuyển có ba. Tất cả chúng sanh đan dệt cái hư vọng mà hỗ tương thành lập.

Sự đổi dời là trong thân, thế (thời gian) và giới (không gian) gắn bó với nhau. Nhưng tính của giới ấy tuy thiết lập ra mười phương mà định vị được rõ ràng thì thế gian chỉ thấy phương đông, tây, nam, bắc, phương trên, phương dưới không có vị trí rõ ràng, ở giữa càng không có chỗ nhất định, số bốn của giới đã rõ, nhân với số ba của thế, thì ba lần bốn, bốn lần ba, xoay chuyển thành số mười hai. Biến chuyển ba lớp, một chục thành trăm, thành ngàn, thì tổng quát trước sau ở trong sáu căn, mỗi thứ có thể có đến một ngàn hai trăm công đức.
A Nan, trong sáu căn ấy, ông lại xét định hơn kém thế nào ?

Như căn mắt xem thấy phía trước thì sáng, phía sau thì tối, phương trước toàn sáng, phương sau toàn tốỉ, phải trái hai bên, ba phần chỉ được hai. Tóm lại công đức của căn mắt không hoàn toàn, trong ba phần công đức thì một phần không có. Vậy nên biết căn mắt chỉ có tám trăm công đức.
Như căn tai nghe khắp mười phương không sót, động thì như có xa có gần, tĩnh thì không có bờ bến. Vậy nên biết căn tai đầy đủ một ngàn hai trăm công đức.
Như căn mũi biết ngửi thông cả thở ra thở vào, nhưng còn thiếu khoảng giữa hai hơi thở. Nghiệm xét căn mũi ba phần thiếu một. Vậy nên biết căn mũi chỉ có tám trăm công đức.

Như căn lưỡi tuyên nói đủ các trí thế gian và xuất thế gian. Lời nói có phần hạn, nhưng nghĩa lý thì không cùng tận. Vậy nên biết căn lưỡi đầy đủ một ngàn hai trăm công đức.
Như căn thân biết xúc chạm, biết các cảm giác dễ chịu và khó chịu. Khi hợp thì biết, khi rời thì không biết. Rời chỉ có một phần, hợp thì có hai phần, nghiệm xét căn thân ba phần thiếu một. Vậy nên biết căn thân chỉ có tám trăm công đức.
Như ý căn lặng chứa tất cả pháp thế gian và xuất thế gian trong mười phương ba đời. Dù phàm hay thánh không có cái gì chẳng bao dung tột cùng bờ mé. Vậy nên biết ý căn đầy đủ một ngàn hai trăm công đức.

…………………………………….

Thế giới và chúng sanh, thời gian và không gian, đều do vọng tưởng phân biệt “ đan nhau hư vọng mà thành” . Vọng tưởng phân biệt ấy được “ nhân lên” , “ biến chuyển nhiều lớp” thành ra một thế giới và chúng sanh cứng đặc, nặng đục gọi là sanh tử. Thế giới và chúng sanh ấy đã mất tự do vì đã mất tánh Không, mất ánh sáng vì không còn tánh Minh, mất an lạc, du hý vì đã lìa ngoài tánh Diệu.

Tu hành là trở lại thế giới bổn nguyên, nơi thế giới và chúng sanh là Không, là Minh, là Diệu. Tu hành là an trụ trong tánh thấy, tánh nghe thay vì chạy theo vọng tưởng.

Ở trước vừa nói “ sáu căn đang làm mai mối cho giặc, tự cướp của báu trong nhà” , tại sao ở đây lại nói công dụng của sáu căn bằng từ công đức ? Vì căn vừa có nghiệp cướp bóc, phá gia tài khi chạy theo hiện tượng bên ngoài, nhưng cũng có khả năng đưa các hiện tướng trở lại thành của báu trong nhà.

Đoạn trước, Kinh nói: “ Tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay, mê mình làm vật, bỏ mất bản tâm, bị vật xoay chuyển, nên ở trong ấy lại xem thấy có lớn nhỏ. Nếu hay chuyển được vật tức đồng Như Lai,
thân tâm tròn sáng, đạo tràng bất động, trên đầu một mảy lông có thể ngậm chứa mười phương cõi nước” .

Công đức thật sự của các căn là chuyển được vật tức đồng Như Lai vậy.

………………………………………

A Nan, nay ông muốn ngược dòng sanh tử ái dục, trở lại chỗ tột cùng gốc rễ lưu chuyển, đến cái không sanh diệt, thì phải xét nghiệm sáu căn đang thọ dụng đây, cái nào là hợp, cái nào là lìa, cái nào sâu, cái nào cạn, cái nào là viên thông, cái nào chẳng viên mãn ?

Nếu ngay nơi đây được căn viên thông, ngược dòng nghiệp đan dệt hư vọng từ vô thủy kia, theo được tánh viên thông, thì so với cái căn không được viên thông, thật là gấp bội, một ngày bằng, một kiếp.

Nay ta đã hiển bày đầy đủ số lượng công đức vốn có của sáu căn trong lặng tròn sáng như vậy, tùy ông chọn cho kỹ căn nào có thể nhập, ta sẽ phát minh khiến ông tăng tiến.

Mười phương Như Lai nói mười tám giới, mỗi mỗi tu hành, đều được Vô thượng Giác ngộ viên mãn. Trong các giới ấy không có chỗ nào hơn kém. Chỉ vì ông có thấp kém, chưa thể viên mãn trí huệ tự tại, nên ta nêu bày khiến cho ông chỉ cần ở nơi một căn mà thâm nhập. Nhập một căn không vọng, cả sáu căn kia cùng lúc thanh tịnh.

…………………………………….

Sáu căn đang thọ dụng đây dù đang lưu chuyển theo bên ngoài hay đang ngược dòng về gốc thì luôn luôn hiện hành trên cái không sanh diệt. Chúng chưa bao giờ lìa tánh không sanh không diệt, bao giờ chúng cũng viên thông với cội nguồn tức là cái không sanh diệt. Biết được các căn luôn luôn thông với nguồn tánh, lưu xuất từ nguồn tánh, đó gọi là viên thông, đó gọi là mở nút.

Chính cái biết các căn vốn viên thông với nguồn tánh diệt trừ mọi điên đảo hư vọng. “ Nhập một căn không vọng” nghĩa là căn vốn không vọng, vốn viên thông với nguồn tánh, chứng thực được như vậy thì tất cả sáu căn cùng lúc thanh tịnh.

Khi nói một căn không vọng vì viên thông với nguồn tánh nghĩa là các căn là sự biểu lộ của nguồn tánh. Các tướng mà các căn kinh nghiệm cũng là sự biểu lộ mầu diệu của nguồn tánh. Gốc ngọn, đầu
cuối đều là tánh : tất cả tướng đều là tánh. Đây chính là sự thanh tịnh toàn khắp “ không có chỗ nào hơn kém” của trí huệ tự tại.

…………………………………..

4. CĂN VÀ TÁNH.

A Nan bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn, làm sao ngược dòng vào sâu một cửa lại có thể khiến cho sáu căn cùng một lúc đều thanh tịnh ?
Phật bảo A Nan : Nay ông đã đắc quả Tu Đà Hoàn, đã diệt được kiến sở đoạn hoặc của chúng sanh thế gian ba cõi, nhưng còn chưa hết những tập khí hư vọng chứa nhóm trong căn từ vô thủy. Các tập khí kia cần phải do tu mới đoạn được. Huống gì trong đó
còn nhiều những phân loại số mục sanh trụ dị diệt.

……………………………………..

Tu Đà Hoàn là Nhập Lưu hay Kiến đạo, địa vị thấy đạo. Khi thấy đạo thì đoạn được thân kiến, nghi, giới cấm thủ, nhưng còn bảy cái kia trong mười kiết sử thì còn. Phải tiếp tục đi vào Tu đạo mới hoàn
toàn giải thoát, đắc quả A La Hán. Con đường này tương đương với Sơ địa cho đến Địa Thứ Tám của Đại thừa.

Còn nhiều sanh trụ dị diệt là còn nhiều các niệm phân biệt hư vọng. Chúng phát sanh từ những tập khí chủng tử ở trong thức thứ tám A Lại Da.

Đi sâu vào một cửa, một căn cho đến nguồn gốc là A Lại Da hay Như Lai tạng có nhiễm ô để tịnh hóa tất cả tập khí là con đường Tu Đạo.

…………………………………..

Nay ông hãy xem hiện giờ sáu căn là một hay sáu ?

A Nan, nếu nói là một thì tại sao tai chẳng thấy, mắt chẳng nghe, đầu sao chẳng đi, chân sao chẳng nói ?

Nếu nói sáu căn ấy nhất định là sáu, như nay ta ở trong hội này vì các ông tuyên nói pháp môn vi diệu, vậy trong sáu căn của ông cái nào đang lãnh thọ ?

A Nan thưa : Con dùng tai nghe.

Phật bảo: Tai ông tự nghe thì liên quan gì đến miệng và thân, mà miệng thì hỏi nghĩa, còn thân thì đứng dậy kính vâng. Thế nên phải biết, chẳng phải một mà cuối cùng là sáu, chẳng phải sáu mà cuối cùng là một. Rốt cuộc căn của ông chẳng phải nguyên là một hay nguyên là sáu.

A Nan, phải biết căn ấy chẳng phải là một, chẳng phải là sáu. Chỉ do từ vô thủy đến nay điên đảo vướng vít, chất chồng, nên ở nơi tánh trong lặng toàn khắp lại sanh ra nghĩa một và sáu. Ông là Tu Đà Hoàn, tuy được cái chấp sáu đã tiêu, nhưng vẫn chưa mất hết
cái một.

Như hư không bao la, chung hợp với các vật dụng, do vật dụng có hình dạng khác nhau mà gọi là hư không có khác nhau. Nếu bỏ các vật dụng, xem hư không thì nói hư không là một. Hư không bao la kia đâu có vì ông mà thành đồng hay chẳng đồng. Huống chi gọi đó là một hay chẳng phải một. Thế thì ông biết sáu căn thọ dụng cũng lại như vậy.

………………………………..

Sáu căn chẳng phải nguyên là một hay nguyên là sáu. Chỉ có tưởng phân biệt phân chia vướng vít, chất chồng nên ở ngay nơi tánh trong lặng tròn khắp mà cho là rồi thành sáu hay là một. Các căn thông nhau nên chẳng phải là sáu. Nhưng cũng chẳng có một trung tâm để tập trung về, nên chẳng phải một.

Như hư không bao la tùy theo các vật dụng mà có hình, hư không thì không thể phân chia hình này hình khác. Như các tướng hiện giờ ở trước mắt, nói chúng là khác thì không được vì cùng một cái thấy, nói chúng là một cũng không được vì đâu phải thấy chúng như thấy hư không.

Cho nên ngày nào còn thấy tướng là còn lạc vào sanh tử tạo bằng mâu thuẫn và nghịch lý. Thế nên, dù ngài A Nan đã được tướng Sáu đã tiêu, sáu căn không còn vướng mắc nơi trần, nhưng còn tu đạo để mất hết tướng Một. Một là một tâm; còn tâm tức là còn trần cảnh, chưa thể tiêu dung mà giải thoát. Bởi vì còn Một thì còn đối đãi với Nhiều, còn một trung tâm, dù lớn đến đâu thì vẫn chưa toàn khắp được.

Khi căn là tánh bèn sáu mất một tiêu, không có gì ngoài Như Lai tạng diệu chân như tánh.

………………………………….

Do hai thứ sáng và tối hiển bày lẫn nhau trong tánh diệu viên, dính vào tánh trong lặng, phát sanh ra cái thấy. Cái thấy chiếu hiện (ánh hiện) ra sắc, kết sắc thành căn. Gốc căn gọi là bốn đại thanh tịnh, nhân đó gọi hình thể con mắt như trái bồ đào. Phù căn bốn trần rong ruổi chạy theo sắc.

Do hai thứ động và tĩnh đối chọi lẫn nhau trong tánh diệu viên, dính vào tánh trong lặng, phát sanh ra cái nghe. Cái nghe chiếu hiện ra thanh, cuốn cái thanh lại thành căn. Gốc căn gọi là bốn đại thanh tịnh, nhân đó gọi hình thể lỗ tai như lá mới cuốn. Phù căn bốn trần rong ruổi chạy theo thanh.

Do hai thứ thông và bít phát hiện lẫn nhau trong tánh diệu viên, dính vào tánh trong lặng, phát sanh ra cái ngửi. Cái ngửi chiếu hiện ra hương, thu nạp các hương thành căn. Gốc căn gọi là bốn đại thanh tịnh, nhân đó gọi hình thể lỗ mũi như hai móng tay rủ xuống. Phù căn bốn trần rong ruổi chạy theo hương.

Do hai thứ nhạt và có vị xen lẫn nhau trong tánh diệu viên, dính vào tánh trong lặng phát ra cái nếm. Cái nếm chiếu hiện ra vị, thắt kết vị thành căn. Gốc căn gọi là bốn đại thanh tịnh, nhân đó gọi hình thể cái lưỡi như vành trăng non. Phù căn bốn trần rong ruổi chạy theo vị.

Do hai thứ lìa và hợp cọ xát lẫn nhau trong tánh diệu viên, dính vào tánh trong lặng phát ra cái biết xúc chạm. Cái biết xúc chiếu hiện ra xúc, kết cái xúc thành căn. Gốc căn gọi là bốn đại thanh tịnh, nhân đó gọi hình thể cái thân như cái trống nhỏ. Phù
căn bốn trần rong ruổi chạy theo xúc.

Do hai thứ sanh và diệt nối tiếp lẫn nhau trong tánh diệu viên, dính vào tánh trong lặng phát sanh ra cái biết. Cái biết chiếu hiện ra các pháp, tóm thu các pháp thành căn. Gốc căn gọi là bốn đại thanh tịnh, nhân đó gọi cái ý nghĩ như cái thấy trong nhà tối. Phù căn bốn trần rong ruồi chạy theo pháp.

……………………………………….

Phù căn trần là hình thể bên ngoài của căn.

Trong tánh diệu viên trong lặng, một khi sự phân chia, phân biệt đã khởi động thì dính vào đó mà dần dần phát sanh các cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, biết. Từ sáu cái ‘biết’ này chiếu hiện ra các đối tượng của chúng, và “kết, cuốn, thu nạp, thắt kết, kết, tóm thu” các đối tượng ấy thành các căn. Các căn là sự giới hạn ở mức vật chất của cái biết ban đầu, tức là tánh giác trong lặng, toàn khắp.

Sự phân chia ban đầu vi tế cùng cực, vô minh căn bản, là phân chia năng minh sở minh, năng giác sở giác. Từ đó thói quen (nghiệp) tích tập dần, dựa vào bốn đại thanh tịnh mà thành các căn. Rồi mỗi căn rong ruồi chạy theo đối tượng của mình, thành ra vòng sanh tử luân hồi.

Nhưng dù phân chia thô nặng đến đâu, sự phân chia ấy cũng xảy ra trên nền tảng tánh diệu viên trong lặng. Cho nên nơi sự phân chia thô nặng thành các căn vẫn có nền tảng tánh diệu viên trong lặng. Nếu không có nền tảng này thì không tu được, không có sự trở về, sự “ quay đầu là bờ” , không có con đường viên thông. Còn nơi một căn mà thấy ra cái viên thông “ diệu viên trong lặng” ấy, bèn tức thời giải thoát.

Vấn đề là nơi đối tượng của căn, chúng ta có thấy đó là sự chiếu hiện (ánh hiện) của tánh diệu viên hay không. Thấy được các trần tướng là sự chiếu hiện của ánh sáng (minh) của, tánh diệu viên, như
các hình ảnh đèn chiếu lên trên tường, cho nên không thật, như huyễn, như trò chơi của ánh sáng. Thấy các trần tướng là sự chiếu hiện của ánh sáng tánh diệu viên thông qua các căn thì các trần tướng bèn thành giải thoát.

…………………………………..

A Nan, sáu căn như vậy do cái giác minh kia có cái năng minh liền có cái minh giác, mất đi tánh sáng suốt tinh thuần, dính với vọng mà phát ra hay biết.

Do đó mà nay ông rời tối rời sáng thì không có cái thể của thấy ở đâu cả. Rời động rời tĩnh thì vốn không có cái chất của nghe ở đâu cả. Không có thông, không có bít thì tính của ngửi chẳng sanh. Chẳng phải vị chẳng phải nhạt thì cái nếm không đâu mà ra.

Chẳng lìa chẳng hợp, thì cái biết do xúc chạm vốn không có. Không có diệt không có sanh thì cái tỏ biết không có chỗ ở.

…………………………………….

Khi không có năng và sở thì không mất đi tánh sáng tinh thuần, bèn là tánh sáng không phân chia vốn sẵn xưa nay.

Khi thấy biết rõ các căn “ không có ở đâu cả, không từ đâu mà ra (và do đó cũng không đi đâu), vốn không có, không có chỗ ở” thì ngay đây là tánh giác “ thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới” .

Khi thấy biết các trần tướng chỉ là sự ánh hiện của ánh sáng, chúng chính là ánh sáng, căn trần chỉ là ánh sáng, tâm cảnh chỉ là ánh sáng, thì đây là tánh Minh viên thông.

Đây chính là về nguồn, là viên thông.

……………………………………..

Ông chỉ không theo mười hai tướng hữu vi động tĩnh, lìa hợp, nhạt vị, thông bít, sanh diệt, sáng tối kia, tùy chỗ bứt một căn ra khỏi sự dính, phục về bên trong, trở lại nguồn chân, phát ra cội nguồn sáng suốt rực rỡ. Tánh sáng rực rỡ đã hiện ra rõ ràng thì năm cái dính kia cũng bứt ra, giải thoát hoàn toàn.

Khi ấy, cái thấy biết hiện diện mà chẳng do tiền trần, vốn sáng tỏ mà chẳng theo căn, chỉ gá nơi căn mà tánh sáng phát ra. Bởi thế sáu căn có thể dùng thay lẫn nhau.

……………………………………

Cội nguồn sáng suốt rực rỡ luôn luôn hiện diện, chiếu sáng từ trong ra ngoài, từ gốc tâm cho đến ngọn là các căn. Chỉ vì phù căn bốn trần rong ruỗi chạy theo trần, bị dính theo những “ chiếu hiện”
của chúng mà bỏ quên tánh sáng rực rỡ này.

Cội nguồn vốn sáng tỏ này chẳng theo căn, chỉ gá nơi căn mà tánh sáng phát ra: tham thiền cho thấu đạt điều này thì đây là cửa giải thoát. Từ đây không sống theo căn chịu sanh diệt mà sống trong cội
nguồn vốn sáng tỏ luôn luôn hiện tiền thường trụ.

Mắt mở mà cái thấy biết sáng tỏ vẫn hiện diện không do tiền trần, không nhờ vào căn, nghĩa là thấu thoát qua căn trần thức, thì đây là chỗ bắt đầu của tánh thấy biết.

Chỉ cần không theo các tướng hữu vi, nhổ bứt được một căn ra khỏi sự dính, phục về bên trong, trở lại nguồn chân thì tánh sáng rực rỡ hiện tiền. Thực sự nhổ bứt được một căn ra khỏi sự dính để nguồn chân rực rỡ hiện tiền, đó gọi là ngộ. Tiếp tục giữ gìn sự không dính này của tánh sáng rực rỡ là tiệm tu, cho đến lúc muốn dính cũng không dính được. Khi hoàn toàn đạt đến nguồn chân của các căn, không còn bị cái gì chướng ngại thì các căn có thể dùng thay nhau.

Khi cái thấy biết rực rỡ hiện diện, thường trụ mà chẳng do tiền trần, bấy giờ tiền trần trở thành những “ chiếu hiện” , trò phô diễn trong tự do và giải thoát của tánh sáng.

Một vị Bồ tát, tuy chiếu hiện trên cùng một cọng nghiệp của chúng sanh, cũng núi sông đất đai như mọi người, nhưng từ cội nguồn sáng suốt rực rỡ thanh tịnh nên tất cả đều thanh tịnh và thanh tịnh
đồng nghĩa với như huyễn. Đây là điều các kinh thường nói chúng sanh thì thấy là sanh tử, Bồ tát thì thấy là Niết bàn.

……………………………………….

A Nan, ông há chẳng biết nay ở trong hội này ông A Na Luật Đà không có mắt mà vẫn thấy, rồng Bạt Nan Đà không có tai mà vẫn nghe, thần nữ Căng Già không có lỗ mũi mà ngửi được mùi hương, ông Kiều Phạm Bát Đề lưỡi khác với người mà vẫn nếm được vị, thần Thuấn Nhã Đa không có thân mà biết được xúc, trong hào quang Như Lai chiếu ra mà tạm hiện có thân, chứ bản chất của ông là gió làm gì có thân thể. Các vị Thanh Văn được tịch diệt trong diệt tận định như Ma Ha Ca Diếp trong hội này đã diệt ý căn từ lâu mà vẫn rõ biết sáng suốt trọn vẹn không do tâm niệm.

……………………………………..

Cái thấy biết một khi đạt đến cội nguồn sáng suốt rực rỡ thì chẳng do tiền trần, chẳng nhờ theo căn. Tánh giác hay cái thấy biết này bây giờ hoàn toàn tự do tự tại, gọi là trí huệ tự tại vì chẳng nương vào đâu cả.

Ở trên là những thí dụ có trong các loài, nói lên cái dụng kỳ diệu của tánh giác, chứ không phải là mục tiêu để đạt đến. Mục tiêu để đạt đến là cội nguồn sáng suốt rực rỡ hay là tánh giác Minh Diệu, nơi gồm về của tất cả các căn.

……………………………………

A Nan, bây giờ các căn của ông nếu đã hoàn toàn nhổ bứt, thì cái sáng chói bên trong phát ra. Như thế các phù trần căn và các tướng biến hóa của thế gian vật chất đều tiêu mất như băng gặp nước sôi, lập tức hóa thành tri giác vô thượng.

…………………………………….

Khi các căn đã hoàn toàn nhổ bứt, nghĩa là đã hoàn toàn về đến, viên thông với cội nguồn sáng suốt rực rỡ, thì ánh sáng chói lọi của cội nguồn phát ra chiếu soi làm tiêu tan, nghĩa là chuyển hóa, các căn cũng như thế giới vật chất thành một vị tri giác vô thượng. Tri giác vô thượng là thấy, nghe, chạm, nghĩ.. ..đều chỉ có một vị là Niết bàn.

Khi các cửa (các căn) đã mớ toang, thì tất cả đều là Giác.

Đoạn này Đức Phật nói về quả Tri giác vô thượng để khuyến khích chúng ta sùng mộ, tinh tấn và nỗ lực trong từng phút giây. Bởi vì dù không nhổ bứt hoàn toàn được căn, nhưng nhổ tới đâu thì tri giác vô thượng hiện ra tới đó, khiến cho người thực sự tu hành nếm được phần nào cái “ một vị sanh tử tức Niết bàn” .

……………………………………..

A Nan, như người thế gian kia gom cái thấy ở nơi con mắt. Nếu bảo nhắm lại thì tướng tối hiện ra trước mắt, sáu căn đều tối, đầu và chân cũng thế. Người ấy lấy tay rờ quanh thân thì tuy chẳng thấy mà một phen nhận biết đầu và chân thì cái tri giác vẫn đồng như trước. 

Do vì cái thấy nhân nơi sáng, khi tối thành ra không thấy. Còn cái thấy mà không nhân nơi cái sáng mà tự phát ra thì các tướng tối chẳng bao giờ làm mờ tối được. Căn và trần đã tiêu tan, làm sao cái giác minh chẳng trở thành mầu diệu cùng khắp?

………………………………………..

Căn chỉ là nơi để tánh giác sáng tỏ gá vào mà hiển lộ cho chúng ta, căn có thể đổi thay nhau, nhưng “cái tri giác sáng tỏ vẫn đồng như trước”.

Cái thấy của cội nguồn sáng chói thì căn và trần không che tối được. Khi đã về nguồn tánh thì căn trần chướng ngại đã tiêu tan, cái giác minh bị phân chia nơi các căn trở thành hợp nhất, tức là tánh giác thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới.

Nếu biết trần tướng là sự chiếu hiện từ cội nguồn sáng suốt rực rỡ, thì các trần tướng chính là ánh sáng của cội nguồn. Từ gốc đến ngọn, từ nguồn tánh đến căn đến cảnh đều là một ánh sáng viên thông, còn đâu cái gọi là sanh tử?

……………………………………………

MỤC XII. ĐÁNH CHUÔNG ĐỂ THỂ NGHIỆM
TÍNH THƯỜNG TRỤ.

A Nan bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn, như lời Phật dạy, muốn cầu quả thường trụ thì giác tâm nhân địa cần phải tương ứng với danh mục quả vị. Bạch Thế Tôn, như trong các quả vị Bồ đề, Niết bàn, Chân Như, Phật tánh, Am ma la thức (Bạch tịnh thức), Không Như Lai tạng, Đại viên cảnh trí, bảy danh hiệu ấy tuy tên gọi khác nhau nhưng thể thanh tịnh viên mãn vững chắc như kim cương vương, thường trụ chẳng hoại.
Nếu cái thấy nghe này lìa ngoài cái sáng tối, cái động tĩnh, cái thông bít, rốt ráo không có tự thể, cũng như tâm niệm rời tiền trần thì vốn không chỗ có, thế thì tại sao lấy cái rốt ráo đoạn diệt ấy làm nhân địa tu hành mà mong được quả là bảy đức thường trụ của Như Lai?

Bạch Thế Tôn, nếu lìa sáng tối thì cái thấy rốt ráo là không, như không có tiền trần thì tự tánh,của niệm diệt mất, tới lui xoay vần, suy xét chín chắn thì vốn không có tâm và tâm sở của con, vậy con lấy cái gì làm nhân địa để cầu Vô thượng giác? Như Lai trước đã dạy tánh trong lặng thuần túy, viên mãn, thường trụ, nay lời nói trái ngược nhau, rốt cuộc thành hý luận. Đâu là lời chân thực của Như Lai, xin Thế Tôn rủ lòng đại từ khai mở chỗ mê lầm cho con.

………………………………….

Nói tánh Không là vô tự tánh không có nghĩa là không có gì cả, đây là Không Như Lai tạng, sự không có tuyệt đối, sự vắng mặt tuyệt đối. Nhưng lại có Bất Không Như Lai tạng, sự hiện hữu tuyệt đối, sự
có mặt tuyệt đối.

Như ở đoạn trước nói Như Lai tạng “chẳng phải” tất cả, đây là không Như Lai tạng. Đồng thời Như Lai tạng “tức là” tất cả, đây là Bất Không Như Lai tạng.

Cho nên nghe rằng tánh thấy nghe lìa ngoài tiền trần thì không có ở đâu cả thì tình thức mê lầm bèn nghĩ rằng Rốt ráo Không (Tất cánh Không) là không có gì cả nên phải hỏi tiếp. Đoạn vừa rồi đã nói: “Khi ấy cái thấy biết hiện diện mà chẳng do tiền trần, vốn sảng tỏ mà chẳng theo căn, chỉ gá nơi căn mà tánh sáng phát ra” là đã đủ để không thắc mắc tiếp vậy.

……………………………….

Phật bảo A Nan: ông học rộng nghe nhiều, mà các lậu chưa hết, trong tâm chỉ biết suông cái nhân điên đảo, còn cái điên đảo thật sự trước mắt lại chưa thể biết, e rằng tâm thành của ông vẫn chưa tin phục.

Nay ta thử đem các việc thế gian để giải trừ cái nghi của ông.

Liền đó, Như Lai bảo La Hầu La đánh một tiếng chuông và hỏi A Nan rằng: Nay ông có nghe không?

A Nan và đại chúng đều nói: Dạ, có nghe.

Khi tiếng chuông hết ngân, Phật lại hỏi: Nay ông có nghe không?

A Nan và đại chúng đều nói: Dạy không nghe.

Khi ấy La Hầu La lại đánh một tiếng chuông. Phật lại hỏi: Nay ông có nghe không?

A Nan và đại chúng đều nói: Dạ, đều có nghe.

Phật lại hỏi A Nan : Theo ông, thế nào là có nghe, thế nào là không nghe?

A Nan và đại chúng đều bạch Phật rằng: Tiếng chuông nếu có đánh thì chúng con được nghe. Đánh lâu tiếng hết, âm vang đều dứt, thì gọi là không nghe.

Như Lai lại bảo La Hầu La đánh chuông, rồi hỏi A Nan: Theo ông nay có tiếng không?

A Nan và đại chúng đều nói: Dạ, có tiếng.

ít lâu sau tiếng hết, Phật lại hỏi: Theo ông hiện giờ có tiếng không?

A Nan và đại chúng đều đáp: Dạ không có tiếng.

Lát sau, La Hầu La lại đánh tiếng chuông. Phật lại hỏi: Theo ông nay có tiếng không?

A Nan và đại chúng đều nói: Dạ, có tiếng.

Phật lại hỏi A Nan: Theo ông, thế nào là có tiếng, thế nào là không tiếng?

A Nan và đại chúng đều bạch Phật rằng: Tiếng chuông nếu có đánh thì gọi là có tiếng. Đánh lâu tiếng hết, âm vang đều dứt, thì gọi là không có tiếng.

Phật bảo A Nan và đại chúng rằng: Hôm nay vì sao các ông nói trái ngược lộn xộn như thế ?

A Nan và đại chúng đều bạch Phật: Cớ sao giờ đây chúng con bị gọi là trái ngược lộn xộn ?

Phật bảo: Ta hỏi ông về nghe thì ông nói là nghe. Lại hỏi ông về tiếng thì ông nói là tiếng. Chỉ cái nghe và cái tiếng mà trả lời không nhất định, như thế không gọi là trái ngược lộn xộn sao được?

A Nan, tiếng hết không còn vang, ông nói là không nghe. Nếu thật không nghe thì tánh nghe đã diệt, đồng như cây khô, khi tiếng chuông lại đánh lên, làm sao ông còn biết được ?

Biết rằng có biết rằng không, đó là tiếng của trần hoặc có hoặc không, chứ tánh nghe đó đâu có vì ông mà thành có thành không. Tánh nghe mà quả thật không có thì cái gì biết là không có tiếng ?

Thế nên, A Nan, trong cái nghe, cái tiếng tự có sanh có diệt, chẳng phải vì ông nghe tiếng sanh tiếng diệt mà khiến cho tánh nghe của ông là có là không. Ông còn điên đảo, lầm cho cái tiếng là cái nghe thì lạ gì chẳng mê mờ lấy cái thường cho là cái đoạn. Trọn chẳng nên nói, lìa ngoài các thứ động tĩnh, đóng bít, mở thông thì cái nghe không có tự tánh.

…………………………………

Đức Phật “ thử đem các việc thế gian” để chi cho ngài A Nan tánh nghe, nếu “ thành tâm” lãnh nhận thì có thề nhận biết tánh nghe đang có nơi mình. Đây là một thí nghiệm trực tiếp để chúng ta trực
tiếp nhận biết tánh nghe.

Bốn lần Đức Phật bảo La Hầu La đánh chuông. Hai lần đầu Đức Phật hỏi có nghe không, hai lần sau Đức Phật hỏi có tiếng chuông không. Nhưng đại chúng đều lầm lẫn giữa có nghe và có tiếng. Khi có
tiếng chuông, ngài A Nan và cả đại chúng đều nói có nghe; khi tiếng chuông hết vang, ngài A Nan và đại chúng đều trả lời là không nghe. Ngài A Nan và đại chúng đều lẫn lộn giữa cái nghe và cái tiếng. Lỗi lầm là do đồng hóa cái nghe với cái tiếng. Cái tiếng thì khi có khi không, còn cái nghe vẫn luôn luôn hiện diện.

Nhưng khi không nghe tiếng biết là không nghe tiếng, như vậy chính xác là có nghe, có nghe cái không có tiếng. Đánh chuông có nghe, mà không đánh chuông cũng có nghe, nghe cái không có tiếng. Như vậy cái nghe hay sâu xa hơn nữa, tánh nghe, thì hiện diện thường trực, dù có tiếng hay không có tiếng. Tánh nghe luôn luôn hiện hữu, thấu thoát qua có tiếng và không có tiếng. Nó luôn luôn hiện hữu, ở đây và bây giờ. Nó không có không gian và thời gian. Nỏ là cái hiện tại vĩnh cửu.

Cái tiếng có sanh có diệt, còn tánh nghe thường nghe nên không sanh không diệt. Chạy theo tiếng thì có sanh có diệt, còn “ ở trong tánh nghe” thì không sanh không diệt.

Hơn nữa, tánh nghe thì nghe toàn khắp mọi hướng nên tánh nghe thì ở khắp, tiếng ở phương nào cũng đều nghe, ở đâu có tiếng thì ở đó có tánh nghe. Tiếng thì có sanh có diệt và ở khắp, cho nên cái không sanh không diệt bao trùm mọi cái sanh diệt là tánh nghe cũng ở khắp.

Ở trước thì nói tánh thấy, ở đây thì nói tánh nghe. Tánh thấy tánh nghe gần gủi với chúng ta biết bao nhiêu, cụ thể biết bao nhiêu, bởi vì ngay nơi căn mắt, căn tai mà nhận ra tánh thấy tánh nghe.

Nhưng cũng chớ nhầm lẫn rằng, tánh thấy là của tôi, tánh nghe là của tôi. Nó “ thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới” nên chẳng phải của ai cả. Nó chỉ “ gá vào căn” để mà biểu lộ cho người có căn, thế thôi.

Khi đã tin được tánh nghe vốn thường trực ở nơi mình, thì thường xuyên ở trong tánh nghe để nghe tiếng sanh diệt và nghe cái không có tiếng. Khi có tiếng, đó là tánh nghe, khi không có tiếng đó là tánh nghe. Tiếng ở các phương đều nghe, tiếng ở khắp nơi đều nghe, thì tánh nghe ở khắp cả. Công phu như vậy cho đến lúc thực sự gặp gỡ, tương ưng được với tánh nghe.

Khi đã thấy biết được, nhất niệm tương ưng với tánh nghe, thì sau đó tu là niệm niệm tương ưng với tánh nghe, nghĩa là “ xoay nghe, nghe tự tánh” (phản văn, văn tự tánh) như trong bài kệ của ngài Văn Thù khi chọn căn viên thông ở sau. Đây là sự tiệm tu, dần lên các địa cho đến viên mãn.

…………………………………….

Như có người đang ngủ say trên giường gối, trong nhà có người giã gạo. Người ấy trong mộng, nghe tiếng giã gạo lầm cho là tiếng gì khác, hoặc cho là đánh trống, hoặc cho là dộng chuông. Ngay khi mộng người ấy tự lấy làm lạ sao tiếng chuông lại vang lên như tiếng của cây, của đá. Khi chợt tỉnh dậy biết là tiếng giã gạo bèn nói với người nhà, chính khi đang mộng, tôi lầm tiếng chày là tiếng trống.

Này A Nan, người ấy ở trong mộng đâu có nhớ những việc động tĩnh, mở đóng, thông bít. Thế thì thân thể tuy ngủ, nhưng tánh nghe không mờ tối. Dầu thân hình ông có tiêu tan, mạng căn có đổi dời, tánh ấy làm sao vì ông mà tiêu diệt được ?

………………………………………..

Tánh nghe vẫn thường trực hiện diện, dầu khi thức, khi ngủ mộng và cả khi thân thể tiêu tan. Tánh nghe thường trụ qua tất cả mọi trạng thái của đời sống, cho nên biết được tánh nghe, sống được với nó, an trụ trong nó, người ta sẽ thoát khỏi vòng sống chết.

Tánh nghe thì “ thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới” . Thanh tịnh bổn nhiên vì luôn luôn có mặt, có tiếng hay không có tiếng đều nghe, không bị cái gì, trạng thái tâm thức nào làm ngăn ngại.
Toàn khắp pháp giới vì chỗ nào có tiếng chỗ đó có tánh nghe, chỗ nào không có tiếng chỗ đó có tánh nghe.

……………………………….

Bởi vì chúng sanh từ vô thủy đến nay theo các sắc thanh, rong ruổi theo niệm tưởng mà lưu chuyển, chưa từng khai ngộ bản tánh thanh tịnh, mầu diệu, chân thường. Không theo cái chân thường ấy  mà đuổi theo các thứ sanh diệt, do đó đời này sang đời khác cứ tập nhiễm mà lưu chuyển.

Nếu bỏ đi cái sanh diệt, giữ lấy tánh chân thường, thì ánh sáng thường trụ hiện tiền, mọi thứ căn, trần, thức, tâm, tức thì tiêu mất.

Tướng của vọng tưởng là trần, thức tình là cấu. Hai thứ ấy một lúc xa lìa thì con mắt pháp của ông tức thời thanh tịnh sáng suốt. Thế thì tại sao không thành Tri giác vô thượng?

……………………………………

Thật ra chúng ta vốn đang thấy bằng tánh thấy, nghe bằng tánh nghe, chỉ vì một niệm bỏ quên mà phân thành chủ khách, tâm cảnh. rồi như chàng Diễn Nhã Đạt Đa điên cuồng bỏ chạy vì những vọng
tưởng của chính mình.

Ngay bây giờ đây mà không đuổi theo các thứ sắc thanh và niệm tưởng thì không những khỏi lưu chuyển, mà bản tánh thanh tịnh, mầu diệu, chân thường liền hiện tiền trước mắt. Trong bản tánh vốn dừng lại, tịch lặng, bất động từ vô thủy, đây là ông chủ, chỉ cần chúng ta không đuổi theo sắc thanh và các vọng tưởng thì tức khắc chúng ta cũng là ông chủ vốn dừng lại từ vô thủy.

Thấy được cái vốn dừng lại từ vô thủy này, gọi là có được con mắt pháp thanh tịnh (pháp nhãn thanh tịnh).

Khi thật sự dừng lại lâu trong cái vốn dừng lại ấy thì các lưu chuyển của căn, trần, thức, tâm đều được thấy là cũng dừng, cũng bất động. Khi đã nhập sâu vào tánh không sanh không diệt, thì các tướng
sanh diệt cũng trở thành không sanh không diệt. Khi đã là chủ lâu năm, thì tất cả đều là chủ, không có cái gì ngoài ông chủ.

Khi không còn bị các thứ sanh diệt quấy nhiễu, thì ánh sáng thường trụ (thường tịch quang, tịnh quang) hiện tiền, trong ánh sáng căn bản ấy, mọi thứ căn, trần, thức, tâm, tức thì tiêu mất, vì bản tánh của chúng vốn là ánh sáng thường trụ.

Hết Quyển 4

 

Post Comment