Search by category:
Kinh Sách

QUYỂN SÁU:

QUYỂN SÁU
5. VIÊN THÔNG VỀ CĂN TAI.

1. Tu chứng viên thông của Bồ tát Quán Thế Âm.

Bấy giờ Bồ tát Quán Thế Âm liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật mà bạch Phật rằng:

Bạch Thế Tôn, con nhớ hằng sa kiếp về trước có Phật ra đời hiệu là Quán Thế Âm, từ đức Phật ấy con phát tâm Bồ đề (Giác ngộ). Đức Phật ấy dạy con từ Nghe (Văn), Suy nghĩ (Tư) và Tu, nhập vào tam ma đề.

……………………………..

Đạo Phật, dù ở pháp môn nào, tông phái nào cũng lấy ba cái Nghe, Nghĩ, và Tu làm căn bản.

Pháp bắt đầu bằng nghe, đọc, học. Sau đó là suy nghĩ, tư duy về Pháp, nhờ suy nghĩ này mới tin hiểu được rồi mới đi vào thực hành (tu). Có tu mới có chứng, kinh nghiệm được Pháp trực tiếp và thực sự.

Ngay cả suy nghĩ cũng cần trong lúc thực hành, biết phân biệt cái này đúng cái kia sai, cái này là thật, cái này là tạm thời, đây là nhập địa, đây là trụ địa, đây là xuất địa…. Suy nghĩ này cũng cần căn cứ vào những điều đã nghe, đã học. Tóm lại khi hành một cái thì vẫn có hai cái kia đi kèm.

………………………………..

Ban đầu ở trong cái nghe, vào dòng mất cái được nghe (sở). Cái được nghe và chỗ vào đã vắng lặng, hai tướng động tĩnh rõ ràng chẳng sanh. Như vậy dần dần tăng tiến thêm, cái nghe (năng) và cái được nghe (sở) đều hết.

Chẳng dừng lại nơi hết cái nghe và cái được nghe thì cái năng giác và sở giác đều Không. Không và giác cùng tột tròn vẹn thì năng Không và sở Không đều diệt.

Sanh diệt đã diệt, tịch diệt hiện tiền. Tức thì vượt khỏi thế gian lẫn xuất thế gian, tròn sáng khắp mười phương, được hai điều tột bậc: Một là trên hợp với Bản giác diệu tâm của mười phương chư- Phật, cùng với chư Phật Như Lai đồng một sức Từ, hai là, dưới hợp với tất cả mười phương chúng sanh sáu nẻo, cùng với các chúng sanh đồng một Bi ngưỡng.

…………………………………….

Ban đầu ở trong cái nghe, vào dòng là vào dòng tánh nghe thì cái được nghe (âm thanh, không có âm thanh) bèn mất. Cái được nghe và chỗ vào đã vắng lặng, hai tướng động tĩnh rõ ràng chẳng sanh, như vậy là bắt đầu đi vào tánh nghe, vì tánh nghe thì không có người nghe và cái được nghe. Đây chỉ mới là Tam hiền, tương tự giác, chưa thực sự vào địa tức là vào Pháp thân tánh Không.

Nhưng chẳng dừng lại nơi hết cái nghe và cái được nghe mà tiến thêm nữa thì năng giác sở giác đều Không. Lúc này mới thực sự thấy biết được tánh nghe, mà cũng tức là tánh Không. Đây là vào Sơ địa tức là vào Pháp thân. Pháp thân có mười địa, giác theo các địa nên gọi là Tùy phần giác. Năng giác, sở giác đều Không, trực tiếp thấy biết điều đó gọi là Kiến đạo vị, địa vị thấy đạo tức là thấy Pháp thân tánh Không. Ngộ là phải từ đây trở lên, vì trực tiếp thấy được tánh Không.

Không và giác cùng tột tròn vẹn thì năng Không và sở Không đều diệt, đây là tu hành trong pháp thân tánh Không nhằm đạt đến sự cùng tột tròn vẹn tánh Không, từ sơ địa cho đến địa thứ bảy, Viễn hành địa.

Đến khi cùng tột trọn vẹn, năng Không và sở Không đều diệt, khi ấy sanh diệt đã diệt, tịch diệt hiện tiền, đây là Địa thứ Tám, Bất động địa, đắc Vô sanh pháp nhẫn, ở Địa thứ Tám là hoàn toàn giải thoát, tương đương với quả Vô học của bậc A La Hán, vượt khỏi thế gian và xuất thế gian, tròn sáng khắp mười phương.

An trụ trong tánh nghe không có mọi năng sở thì sanh tử tập khí dần dần tiêu mất. Do đó mà “sanh diệt đã diệt, tịch diệt hiện tiền”. Đây là đắc quả vô lậu giải thoát.

Với bậc Bồ tát thì còn lên nữa để thành Phật. Ở đây có hai điều tột bậc: trên hợp với Tâm chư Phật, đồng một sức Từ, dưới hợp với tất cả chúng sanh, đồng một Bi ngưỡng.

Chúng ta thấy bậc Bồ tát không chỉ đạt đến tánh Không như một vị A La Hán, mà còn hợp nhất tánh Không với từ bi. Tánh Không bao trùm tất cả, đó là đại từ đại bi. Thế nên trong Kinh Đại Bát Nhã, chuyên nói về tánh Không, khi nói về Phật thì luôn luôn có từ bi “bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, mười lực, mười tám pháp bất cọng, đại từ đại bi”.

Điều quan trọng cần ghi nhận, đây là con đường gồm 52 cấp bậc của Bồ tát, trong đó quan trọng nhất là Mười Địa, vì từ đây mới thoát khỏi sanh tử, thành bậc thánh. Con đường này là khách quan, còn đốn hay tiệm, nhanh hay chậm, nhảy vọt hay thứ lớp là do căn cơ từng người.

……………………………………

2. Diệu lực vô tác thành tựu ba mươi hai hóa thân.

Bạch Thế Tôn, do con cúng dường Như Lai Quán Âm, nhờ ngài truyền thọ cho Tam muội Kim Cương Như Huyễn, huân tu tánh nghe được cùng chư Phật Như Lai đồng một sức Từ, khiến thân con thành ba mươi hai ứng thân, vào các cõi nước.

…………………………….

Văn huân văn tu là huân tu tánh nghe, đạt đến tam muội Kim Cương Như Huyễn, trọn vẹn trở về tánh nghe hay tánh giác mà đồng với chư Phật một pháp thân, một từ lực, khiến có thể thành tựu ba mươi hai ứng hóa thân.

Tại sao gọi là Tam muội Kim cương Như huyễn? Bởi vì ở trong tánh nghe bất hoại như kim cương thì tất cả mọi trần tướng của sanh tử trở thành như huyễn.

Tam muội này chính là tánh giác, Kim Cương là tánh Chỉ, hay tánh Định của tánh giác, và Như Huyễn là tánh Quán hay tánh Chiếu của tánh giác. Sức từ này cũng lưu xuất từ tánh giác hay Phật tánh, do đó có nhiều thân ứng hiện trong cõi sanh tử để độ chúng sanh. Vì thường trụ trong đó, nên như kim cương, ba cõi không thể làm nhiễm ô và có năng lực bất hoại làm việc trong ba cõi. Như huyễn nên làm mà gốc thì không làm, làm mà vẫn giải thoát. Sức từ trùm khắp ba cõi nên gần gũi chúng sanh, sẵn sàng ứng hiện khi chúng sanh có nhu cầu chính đáng.

Nếu không thường trụ trong tánh gỉác, chúng sanh chúng ta cũng “ứng hiện ra”, mà ứng hiện ra những vọng tưởng, những ứng hóa thân của sanh tử luân hồi.

Còn thường trụ trong tánh nghe thì các tập khí, các lậu tiêu sạch, do đó mà có thể ứng hóa ra các thân như huyễn để cứu độ chúng sanh.

………………………………….

Bạch Thế Tôn, nếu các Bồ tát vào tam ma địa, tiến tu vô lậu, hiểu biết siêu việt đã hiện tròn vẹn, con hiện thân Phật vì họ thuyết pháp, khiến cho giải thoát.

………………………………………

Các Bồ tát vào tam ma địa, tiến tu vô lậu, đây là hàng Bồ tát Mười địa, Ngài Quán Thế Âm đã tròn vẹn trí huệ từ bi, tương ưng với quả Phật, nên có thể hiện thân Phật mà giảng nói cho hàng Bồ tát trong Mười địa.

……………………………………

Nếu các hàng Hữu học tu tánh diệu minh vắng lặng, thắng diệu hiển hiện tròn vẹn, con ở trước người ấy hiện thân Độc Giác vì họ thuyết pháp, khiến cho giải thoát

Nếu các hàng Hữu học, đoạn Mười hai nhân duyên, duyên đoạn thì Thắng Tánh thắng diệu hiển hiện tròn vẹn, con ở trước người ấy hiện thân Độc Giác vì họ thuyết pháp, khiến cho giải thoát.

Nếu các hàng Hữu học, đắc Bốn đế Không, tu Đạo đế, nhập Diệt đế, Thắng Tánh hiển hiện tròn vẹn, con ở trước người ấy hiện thân Thanh Văn vì họ thuyết pháp, khiến cho giải thoát.

…………………………………

Hàng Hữu học là Tu Đà Hoàn đến A Na Hàm, tùy theo cách tu mà Bồ tát hiện thân Độc Giác hay Thanh Văn để phù hợp với người học.

Các vị tu theo Thanh Văn, Độc Giác đều tu tánh Không. Độc Giác thì tu tánh Không vắng lặng hay tu Mười hai nhân duyên Không. Bậc Thanh Văn thì tu Bốn đế Không. Như Kinh Đại Bát Nhã nói, hành giả muốn thành Thanh Văn, Độc Giác, hay Bồ tát đều phải tu tánh Không, tức là Trí huệ Bát Nhã thấu suốt tánh Không.

………………………………..

Nếu các chúng sanh muốn tâm tỏ ngộ, chẳng phạm trần dục, muốn thân thanh tịnh, con ở trước người ấy hiện thân Phạm vương vì họ nói pháp, khiến cho giải thoát.

Nếu các chúng sanh muốn làm Thiên chủ Đế Thích thống lãnh chư thiên, con ở trước người ấy hiện thân Đế Thích vì họ nói pháp, khiến cho thành tựu.

Nếu các chúng sanh muốn thân tự tại, đi khắp mười phương, con ở trước người ấy hiện thân Tự Tại Thiên vì họ nói pháp, khiến cho thành tựu.

Nếu các chúng sanh muốn thân tự tại, bay đi trong hư không, con ở trước người ấy hiện thân Đại Tự Thiên vì họ nói pháp, khiến cho thành tựu.

…………………………………..

Theo Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thập Địa, các Bồ tát đắc một phần pháp thân từ Sơ địa trở lên đều có trí huệ, phước đức và oai lực lớn. Cụ thể Sơ Hoan Hỷ địa “phần nhiều hiện làm vua ở Diêm Phù Đề”. Ly cấu địa “phần nhiều hiện thân làm Chuyển luân thánh vương, làm đại pháp chủ”. Phát Quang địa thứ ba “phần nhiều hiện thân làm Đao Lợi thiên vương, Thiên Đế Thích”. Diệm Huệ địa “phần nhiều làm Dạ Ma thiên vương”. Nan Thắng địa thứ năm “thường làm Đâu Suất thiên vương”. ..

Một vị đắc được bao nhiêu phần Pháp thân thì cũng được bấy nhiêu phần Báo thân và Hóa thân, tầm hoạt động của sự hiện thân càng lớn, càng cao. Từ đó có thể thấy Bồ tát Quán Thế Âm đã đi hết Thập địa thì sự hiện thân trùm khắp ba cõi.

………………………………….

Nếu các chúng sanh muốn thống lĩnh quỷ thần, cứu hộ cõi nước, con ở trước người ấy hiện thân Thiên Đại tướng quân vì họ nói pháp, khiến cho thành tựu.

Nếu các chúng sanh muốn thống lĩnh thế giới, bảo hộ chúng sanh, con ở trước người ấy hiện thân Tứ thiên vương vì họ nói pháp, khiến cho thành tựu.

Nếu các chúng sanh muốn sanh nơi Thiên cung, sai khiến quỷ thần, con ở trước người ấy hiện thân thái tử của Tứ thiên vương vì họ nói pháp, khiến cho thành tựu.

…………………………………….

Thiên đại tướng quân là tướng của trời Đế Thích. Tứ thiên vương là thần của Đế Thích bảo hộ cho bốn đại châu. Đây là những vị trời thần bảo hộ, cứu hộ những cõi nước, những thế giới, giữ gìn sự an toàn và sự tu hành của chúng sanh.

Đức Quan Âm, dùng Phật lực từ Phật tánh mà nói pháp, làm cho công việc của những vị ấy thành tựu như là Bồ tát hạnh.

……………………………………

Nếu các chúng sanh muốn làm Vua trong cõi người, con ở trước người ấy hiện thân Vua, vì họ nói pháp, khiến cho thành tựu.

Nếu các chúng sanh muốn làm chủ gia đình danh tiếng, người đời kính nhường, con ở trước mặt người ấy hiện thân Trưởng giả vì họ nói pháp, khiến cho thành tựu.

Nếu các chúng sanh thích đàm luận những danh ngôn, giữ mình trong sạch, con ở trước mặt người ấy hiện thân Cư sĩ, vì họ nói pháp, khiến cho thành tựu.

Nếu các chúng sanh muốn trị cõi nước, chia các bang ấp, con ở trước người ấy hiện thân Tể quan vì họ nói pháp, khiến cho thành tựu.

Nếu các chúng sanh thích các số thuật, nhiếp giữ thân tâm, con ở trước người ấy hiện thân Bà la môn vì họ thuyết pháp khiến cho thành tựu.

…………………………………..

Những chúng sanh muốn làm việc xã hội, chính trị kinh tế, ích lợi cho đời, muốn làm người chủ gia đình cao quý, làm người ham học tập để tu thân, Bồ tát đều hiện ra trước người ấy giúp cho họ thành tựu nguyện vọng cao đẹp của họ.

Đức Quán Thế Âm đã thành tựu đại trí và đại từ bi, một trong những Hóa thân là cầm ngọc Như Ý, khiến cho nguyện vọng của chúng sanh thành tựu.

………………………………….

Nếu có người nam muốn học xuất gia, giữ các giới luật, con ở trước người ấy hiện thân Tỳ kheo vì họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Nếu có người nữ muốn học xuất gia, giữ các giới cấm, con ở trước người ấy hiện thân Tỳ kheo ni vì họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Nếu có người nam thích giữ năm giới, con ở trước người ấy hiện thân Cư sĩ nam vì họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Nếu có người nữ tự giữ năm giới, con ở trước người ấy hiện thân Cư sĩ nữ, vì họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

……………………………………..

Bồ tát Quán Thế Âm hiện thân người xuất gia với người nam và người nữ muốn xuất gia khiến được như ý nguyện. Với người nam, nữ muốn trở thành cư sĩ nam, nữ, ngài hiện thân cư sĩ nam nữ hướng dẫn họ vào con đường Phật đạo.

………………………………………

Nếu có người nữ lập thân trong nội chính để sửa sang nước nhà con ở trước người ấy hiện thân Nữ chúa hay thân Quốc phu nhân vì họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Nếu có chúng sanh không phá nam căn, con ở trước người ấy hiện thân đồng nam vì họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Nếu có thiếu nữ thích thân trong trắng, không muốn sự xâm bạo, con ở trước người ấy hiện thân đồng nữ vì họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

…………………………………….

Hiện thân đồng nam đồng nữ với người không muốn kết hôn, không muốn vào ái dục, là cái nhân gần nhất cho cái quả lưu lạc trong luân hồi sanh tử. Thuyết pháp cho họ để thành tựu được ước nguyện.

………………………………..

Nếu có các Thiên muốn ra khỏi loài trời, con hiện thân Trời vì họ thuyết pháp khiến cho thành tựu.

Nếu có các Rồng muốn ra khỏi loài rồng, con hiện thân Rồng vì họ thuyết pháp khiến cho thành tựu.

Nếu có Dược xoa muốn ra khỏi loài Dược xoa, con hiện thân Dược xoa vì họ thuyết pháp khiến cho thành tựu.

Nếu có Càn thát bà muốn thoát loài mình, con ở trước họ hiện thăn Càn thát bà vì họ thuyết pháp khiến cho thành tựu.

Nếu có A tu la muốn thoát loài mình, con ở trước họ hiện thân A tu la vì họ thuyết pháp khiến cho thành tựu.

Nếu có Khẩn na la muốn thoát loài mình, con ở trước họ hiện thân Khẩn na la vì họ thuyết pháp khiến cho thành tựu.

Nếu có Ma hô la già muốn thoát loài mình, con ở trước họ hiện thân Ma hô la già vì họ thuyết pháp khiến cho thành tựu.

Nếu các chúng sanh thích loài người, tu để được thân người, con hiện thân người vì họ thuyết pháp khiến cho thành tựu.

Nếu có các phi nhân, hoặc có hình hoặc không có hình, hoặc có tưởng hoặc không có tưởng, muốn thoát loài mình, con ở trước họ, đều hiện thân họ, vì họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

…………………………………..

Bồ tát Quán Thế Âm hiện thân trong các loài của ba cõi để độ chúng sanh. Sở dĩ có thể hiện bao nhiêu ứng hóa thân như thế, vừa các loại khác nhau, vừa một lúc nhiều thân là do đã đạt trọn vẹn Pháp thân Bản giác diệu tâm, hợp nhất với chư Phật mười phương, về phía chúng sanh, ngài cũng hợp nhất với tất cả chúng sanh mười phương trong sáu nẻo, đồng thể đại bi, để tức thời ứng hiện theo nhu cầu chánh đáng của chúng sanh.

Thần chú Sáu Chữ Đại Minh Om mani padme hum của ngài, mỗi chữ là để cứu độ một loài trong sáu loài của ba cõi.

……………………………….

Đó gọi là ba mươi hai ứng thân diệu mầu thanh tịnh vào các cõi nước, đều do diệu lực vô tác của Tam muội huân tu tánh nghe mà tự tại thành tựu.

……………………………….

Địa thứ Tám Vô công dụng địa chứng đắc trọn vẹn Không, Vô tướng, Vô tác. Nhưng với con đường Bồ tát thì tánh Không luôn luôn hợp nhất với đại từ đại bi. Từ đó trở lên thì Vô tác diệu lực, tức là năng lực của tánh Không từ bi, khai phát càng mạnh để có thể làm việc khắp ba cõi.

Vô tác diệu lực là diệu lực của tánh Không hợp nhất với từ bi. Thế nên tánh Không không chỉ là mặt vô sanh tịch diệt, mà còn là hoạt động phi thường của giác ngộ. Hoạt động ấy nằm trong mặt Diệu Hữu của tánh Không, mà Đại thừa thường nói Chân Không Diệu Hữu.

……………………………………

3. Mười bốn công đức vô úy.

Bạch Thế Tôn, lại do con dùng Vô tác diệu lực của Kim cương Tam muội huân tu tánh nghe này, cùng mười phương ba đời tất cả chúng sanh sáu nẻo đồng một bi ngưỡng, nên khiến các chúng sanh nơi thân tâm con được mười bốn công đức vô úy.

………………………………..

Hoàn toàn ở trong tánh nghe hay tánh giác và tánh giác không hề phân ly với đồng thể đại bi thế nên tất cả chúng sanh đều ở trong thân tâm của Quán Thế Âm và thân tâm Quán Thế Âm ở trong tất cả chúng sanh. Như nước của đại dương ở trong tất cả các làn sóng và bọt sóng, và tất cả các làn sóng và bọt sóng ở trong nước của đại dương. Do sát sao với chúng sanh như thế nên phẩm Phổ Môn Kinh Pháp Hoa nói, “đáng dùng thân gì để được độ, liền hiện thân ấy mà thuyết pháp cho. Gặp khi tai nạn nguy cấp, bèn niệm cung kính Bồ tát Quán Thế Âm, liền được giải thoát”.

“Các chúng sanh nơi thân tâm con”, người nào tin rằng mình ở trong thân tâm Quán Thế Âm thì cầu mong gì hẳn được như ý.

Ba mươi hai Hóa thân đặt trên nền tảng tánh Không và sức Từ. Mười bốn công đức vô úy đặt nền trên tánh Không và đại bi. Tánh Không và Từ Bi hợp nhất nơi một Đại Bồ tát.

………………………………

Một là, do con không tự quán cái âm thanh mà quán cái tánh quán, khiến cho chúng sanh khổ não kia trong mười phương quán âm thanh con liền được giải thoát

……………………………….

Để đến tam muội Kim cương vô tác diệu lực do huân tu tánh nghe thì không quán theo thanh trần mà quán tánh quán, tức là quán tánh đang nghe. Quán tánh đang nghe thì trùm khắp mọi thanh trần. Đây là một ý nghĩa của danh hiệu Quán Thế Âm.

Do quán tánh quán nên trở về nguồn tánh cùng thế giới chúng sanh là một tánh và vì là tánh nên không bị ô nhiễm bởi các tướng khác biệt, chia tách của chúng sanh. “Quán cái tánh quán” thì trở về với nguồn tánh. Nhưng vì “cùng với tất cả chúng sanh trong sáu nẻo đồng một bi ngưỡng” nên tánh quán ấy đồng thể đại bi với tất cả chúng sanh. Như thế ngài là tánh nghe của tất cả chúng sanh luôn luôn đang nghe tất cả chúng sanh, cho nên có danh hiệu là Quán Thế Âm.

Vô tác diệu lực là diệu lực của tánh nghe, không làm mà ứng khắp bất cứ chúng sanh nào tác ý liền ứng, như cái chuông không làm, bất động mà ai gõ vào đều ra tiếng.

Chúng sanh khổ não trong mười phương “quán âm thanh con”, nghĩa là niệm danh hiệu của ngài. Khi ấy âm thanh của ngài hay danh hiệu của ngài trùm khắp pháp giới, đâu đâu cũng có mặt, đâu đâu cũng có thể cứu độ. Nơi ngài, tánh tướng là một nên chạm đến tướng danh hiệu của ngài thì tướng ấy thông làm một với tánh nghe của ngài nên liền được đáp ứng mà liền được giải thoát.

Danh hiệu của ngài là Hóa thân của ngài, Hóa thân ấy là một với Pháp thân “thanh tịnh bổn nhiên, toàn khắp pháp giới”.Cho nên chạm đến danh hiệu ngài là chạm đến pháp thân “thanh tịnh bổn nhiên, toàn khắp pháp giới”, thì chỗ nào lúc nào mà không có sự cứu độ của ngài.

………………………………..

Hai là, cái thấy biết được xoay trở lại, khiến các chúng sanh nếu có rớt vào lửa lớn, lửa chẳng thể đốt cháy.

…………………………………..

Bồ tát Quán Thế Âm đã xoay cái thấy biết trở lại đề hoàn toàn là tánh. Như thế, với ngài thuần chỉ có  tánh Không, “tánh lửa chân Không, tánh Không chân lửa”. Niệm danh hiệu ngài thì tương ưng với tánh lửa chân Không, tam muội kim cương bất khả hoại này do đó có rớt vào trong lửa mà tâm hợp nhất với ngài thì thân không thể bị đốt cháy.

Trong khi bình thường, lửa sân hận vừa khởi lên liền nghe nó, nó bèn tắt trong tánh nghe.

Xoay trần tướng trở lại bản tánh, thì các trần tướng tiêu tan, tự giải thoát.

…………………………………..

Ba là, quán cái nghe xoay trở lại, khiến các chúng sanh bị nước lớn cuốn trôi, nước chẳng thể làm chìm.

………………………………….

Quán cái nghe hoàn toàn đã xoay trở lại nguồn tánh, tức là nguồn của mọi năng lượng đất, nước, lửa,  gió, đó là nguồn Diệu Lực vô tác. Do đó người bị nước cuốn quán niệm Bồ tát Quán Thế Âm tương ưng với nguồn năng lượng Diệu Lực vô tác này thì thoát khỏi nạn nước.

Xoay nghe thì đó là tánh nghe rỗng suốt không có không gian, không có thời gian, sanh tử liền thành hoa đốm.

………………………………….

Bốn là, diệt hết vọng tưởng, tâm không sát hại, khiến các chúng sanh vào các nước quỷ, quỷ không thể hại.

………………………………

Vọng tưởng là quỷ bên trong, diệt hết vọng tưởng, tâm không còn chút gì làm hại, thì quỷ bên ngoài  đã không làm gì được mà từ bi hợp nhất với trí huệ còn làm cho quỷ được chuyển hóa, giải thoát.

…………………………………….

Năm là, huân tu cái nghe thành tánh nghe, sáu căn tiêu về bản tánh, đồng với cái tiếng, cái nghe, hay khiến chúng sanh đang khi bị hại, đao gãy từng đoạn, khiến cho binh khí dường như chém nước, như thổi ánh sáng, bản tánh không có sự lay động.

…………………………………

Huân tu cái nghe thành tánh nghe là đưa mọi cái nghe trở lại thành tánh nghe. Sáu căn tiêu trở về bản tánh nghĩa là sáu căn trở thành bản tánh, cái nghe cái tiếng đồng với bản tánh. Khi ấy chỉ có bản tánh, tánh nghe, cái nghe, cái tiếng được nghe đồng một vị. Đồng một vị bản tánh, một vị từ bi thì bản tánh không hại được bản tánh, từ bi không thể hại từ bi.

Xoay nghe liền không có bốn tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Đó là diệu lực vô tác.

…………………………………

Sáu là, huân tu tánh nghe thuần sáng, sáng khắp pháp giới thì các tăm tối vốn không tự tánh, khiến cho chúng sanh như Dược xoa, La sát, Cưu bàn trà cho đến Tỳ xá giá, Phú đơn na….thảy, tuy ở gần bên cạnh mà mắt chúng chẳng thể thấy.

………………………………..

Đức Quán Thế Âm là tánh nghe thuần sáng, sáng khắp pháp giới, khiến các tăm tối trở thành thực chất của chúng là không tự tánh, do đó không thể làm hại chúng sanh do niệm ngài mà tương ưng được với tánh sáng khắp cả của ngài.

Trí huệ là tánh sáng khắp cả, từ bi khiến chứng ngộ chúng sanh là một với mình, đây là Diệu lực vô tác của Bồ tát Quán Thế Âm.

…………………………………

Bảy là, các âm thanh hoàn toàn tiêu vào tánh, thấy nghe xoay lại nhập vào bản tánh, lìa các vọng trần, hay khiến chúng sanh chẳng thể bị gông cùm, xiềng xích trói buộc.

………………………………..

Căn trần thức hoàn toàn tiêu vào bản tánh, sanh tử trần tướng hoàn toàn tiêu vào Niết bàn tự tánh thì những gông cùm trói buộc của sanh tử trần tướng chẳng thể làm gì được, bởi vì trong tánh làm gì có gông cùm, xiềng xích?

Chúng ta cần thực hành miên mật dù chỉ một trong mười bốn thứ vô úy cũng đủ đưa tất cả căn trần thức về bản tánh để thoát khỏi sanh tử và những hiểm nguy của nó và cứu giúp chúng sanh khổ não khỏi hiểm nạn sanh tử.

……………………………………

Tám là, diệt dứt âm thanh, viên mãn tánh nghe, khắp sanh sức từ, hay khiến chúng sanh đi qua đường biển, giặc không thể cướp.

………………………………..

Diệt hết âm thanh không phải là phá hủy mọi chỗ phát ra âm thanh trong thế gian, không phải là phá hoại tướng thế gian mà là nghe cho được mọi âm thanh đều là tánh nghe. Như vậy là đưa tất cả tướng về tánh.

“Diệt dứt âm thanh, khắp sanh sức từ”, tánh nghe và sức từ không hai, bao la vô tận.

Ban đầu là đốn ngộ, thấy biết trực tiếp tánh nghe là gì. Sau đó trên nền tảng tánh nghe bất sanh bất diệt này, tiệm tu cho đến lúc “viên mãn tánh nghe”, tức là tất cả âm thanh đều là tánh nghe.

Khi tất cả tướng là một tánh thì đây là sức từ, thấy tất cả là một. Và tánh khắp tất cả pháp giới thì sức từ cũng khắp cả pháp giới.

………………………………….

Chín là, huân tu cái nghe thành tánh nghe, lìa các trần tướng, sắc không thể cướp hại, hay khiến tất cả chúng sanh nhiều dâm dục lìa xa tham dục.

…………………………………

Thấy biết trực tiếp tánh nghe, đó là ngộ, là nhất niệm tương ưng với tánh nghe, là Kiến đạo vị. Xoay tất cả âm thanh và cái nghe thành tánh nghe, viên mãn tánh nghe, đây là “huân tu”, là tiệm tu, là niệm niệm tương ưng với tánh nghe, là Tu tập vị.

Tu như vậy là tu con đường tánh nghe của Bồ tát Quán Thế Âm, tu mười bốn công đức vô úy để đến cứu cánh là Diệu lực vô tác, đồng một bi ngưỡng với tất cả chúng sanh. Khi sắc hoàn toàn thành tánh, “không thể cướp hại”, mình đã hoàn toàn như vậy thì có thể làm cho người khác cũng được thoát khỏi sắc và tham dục.

……………………………………..

Mười là, thuần âm không trần, căn và cảnh viên dung, không có năng đối sở đối, hay khiến tất cả chúng sanh căm giận lìa các nóng giận.

…………………………………

Các âm thanh thì khác nhau vô số, tại sao gọi là thuần âm? Thuần âm là các thứ âm thanh khác nhau vô số nhưng thuần nhất là một tánh nghe. Các âm thanh bình đẳng trong tánh nghe. Tánh nghe là thuần âm, âm thanh thuần túy, bình đẳng một vị, trong đó căn cảnh viên dung, không có người nghe và âm thanh được nghe, thế nên thanh tịnh bổn nhiên, toàn khắp pháp giới.

Ở trong cái thuần âm không năng đối sở đối này thì có thể khiến chúng sanh mất các nóng giận, đối đãi, đấu tranh.

Xoay nghe thì các phiền não tham, sân, si, dâm dục… dứt bặt. Trong tánh nghe không có phiền não nên tánh nghe tịnh hóa mọi phiền não.

…………………………………..

Mười một là, trần tướng tiêu tan, trở lại tánh vốn sáng thì pháp giới và thân tâm đều như ngọc lưu ly, sáng suốt không ngại, hay khiến tất cả các người u mê ám chướng xa lìa vĩnh viễn si mê tối tăm.

…………………………………..

Trần tướng tiêu tan là khi đưa chúng xoay về trong bản tánh thì sự phân biệt của các trần tướng tiêu mất. Do đó các trần tướng tự giải thoát.

Trần tướng tiêu tan vào tánh sáng, trong ngoài đều là một tánh sáng nên pháp giới và thân tâm đều như một viên ngọc lưu ly, sáng suốt không ngại. Chỉ đưa âm thanh trần tướng tiêu tan vào tánh sáng, vào Pháp thân thì lúc nào cũng tu, nơi nào cũng tu, đó là nhập pháp giới như viên ngọc lưu ly. Bấy giờ ai thực sự muốn chạm đến há chăng tiêu mất tối tăm si ám sao?

……………………………………

Mười hai là, tiêu dung hình tướng trở lại tánh nghe, là đạo tràng bất động, thấm nhập thế gian mà không hoại thế giới, hay khắp mười phương cúng dường chư Phật Như Lai như số vi trần, bên mỗi đức Phật làm Pháp vương tử, hay khiến chúng sanh trong pháp giới không có con, muốn cầu con trai sanh được con trai trí huệ phước đức.

……………………………………

Tiêu dung hình tướng ngã-pháp trở lại tánh nghe, đây là đạo tràng bất động, là pháp giới tánh thấm nhập khắp mà chẳng làm hư hoại thế giới. Khi đạt đến Địa thứ Tám thì tự tại nơi pháp giới, cúng dường thân cận chư Phật. Ở địa thứ Tám Bất động địa đã được tám phần Pháp thân, tám phần Đại viên cảnh trí, cho nên cũng đạt được tám phần Thành sở tác trí mà có thể đáp ứng cho sự nguyện cầu của chúng sanh trong pháp giới.

Thế giới này là sự chia lìa vô phương cứu chữa. Tất cả chỉ được hợp nhất trong tánh nghe, cho nên tánh nghe là sự cứu độ đệ nhất của bậc cứu độ đệ nhất là Đức Quán Thế Âm.

…………………………………..

Mười ba là, sáu căn viên thông, sáng chiếu tất cả không hai, trùm khắp mười phương cõi, thành Đại Viên Kính Không Như Lai tạng, thừa thuận pháp môn bí mật của mười phương Như Lai, lãnh nhận không thiếu sót, hay khiến những chúng sanh không có con trong pháp giới, muốn cầu con gái sanh được con gái, đoan chánh phước đức, dịu hiền được mọi người yêu kính.

………………………………….

Sáu căn viên thông nơi nền tảng chân tánh, tánh sáng ấy chiếu suốt sáu căn làm chúng viên thông lẫn nhau, đây là Trí Đại Viên Kính. Trí tấm gương tròn lớn viên mãn ấy sáng chiếu thấu thoát qua tất cả các bóng trong gương, biến tất cả thành không hai. Nhưng các bóng không thể in chết vào gương, không thể làm gương nhiễm ô, đây là Không Như Lai tạng.

Nói cách khác, Trí Đại Viên Kính là Pháp thân, là tấm gương, các bóng trong gương là Hóa thân như huyễn. Đâu cũng là gương, đâu cũng là Pháp thân, nên ở đâu cũng có Hóa thân đáp ứng cho nguyện ước của chúng sanh. Chúng sanh cũng là bóng trong gương nên chúng sanh cũng là Hóa thân của tấm gương Pháp thân. Thấy được như vậy, nhiếp được như vậy, đó là “cùng tất cả chúng sanh mười phương ba đời đồng một Bi ngưỡng”.

Trí Đại Viên Kính Không Như Lai tạng là tất cả Phật pháp, nên “thừa thuận pháp môn bí mật của mười phương Như Lai, lãnh nhận không thiếu sót”, và đáp ứng cho mọi ước nguyện của chúng sanh bằng Trí Thành Sở Tác.

Người tu là phải sống cái Đại Viên Kính này trong từng niệm niệm, tức là sống tâm Quán Thế Âm.

………………………………….

Mười bốn là, trong tam thiên đại thiên thế giới này có trăm ức mặt trời mặt trăng, các vị Pháp vương tử hiện ở khắp thế gian có đến sáu mươi hai hằng sa số, tu Phật pháp, nêu gương mẫu tùy thuận giáo hóa chúng sanh, trí huệ phương tiện mỗi mỗi chẳng đồng.

Do con được bổn căn viên thông phát ra diệu tánh của căn tai, sau đó thân tâm vi diệu trùm chứa cùng khắp pháp giới nên có thể khiến cho chúng sanh trì niệm danh hiệu của con, so với những người trì niệm danh hiệu của sáu mươi hai hằng sa số Pháp vương tử ấy, phước đức hai bên bằng nhau không khác.

Bạch Thế Tôn, một danh hiệu của con cùng với rất nhiều danh hiệu kia không khác, là do con tu tập được chân viên thông.

Đó gọi là mười bốn lực thí vô úy, phước sẵn đủ cho khắp chúng sanh.

………………………………………..

Trì niệm một danh hiệu Quán Thế Âm phước đức cũng bằng trì niệm danh hiệu của sáu mươi hai hằng sa số các Pháp vương tử, bởi vì ngài Quán Thế Âm đã đạt được bổn căn cũng tức là bổn tánh viên thông. Trong bổn căn hay bổn tánh, thân tâm là một, tâm vô biên thân cũng vô biên, trùm chứa cùng khắp pháp giới.

Chân viên thông cũng có nghĩa như vậy, đưa tất cả căn trần thức trở về bản tánh để tất cả chỉ là tánh trùm chứa khắp pháp giới. Khi ấy tánh và tướng không hai, thể và dụng không hai. Do đó một biểu hiện của Bồ tát Quán Thế Âm có nghìn mắt nghìn tay là như vậy.

Ba mươi hai ứng hóa thân là sự hóa hiện của sức Từ, “đồng một Từ lực với chư Phật”, sức Từ này là một với tánh nghe thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới. Sức từ này với Bồ tát và hàng Hữu học thì “khiến cho giải thoát”, với chúng sanh thì “khiến cho thành tựu”. Còn mười bốn công đức vô úy là “cùng với tất cả chúng sanh trong sáu nẻo đồng một Bi ngưỡng”, khiến cho chúng sanh thoát khỏi sợ hãi, khổ nạn. Bi này cũng là một với tánh nghe thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới.

Từ Bi này lưu xuất từ nguồn tánh, từ căn tai viên thông, do xoay căn trần thức về bản tánh mà thành Diệu lực vô tác, sáng chiếu không hai. Trí huệ và Từ Bi đều do xoay về bản tánh hay Phật tánh sẵn có của mỗi người.

Từ bi là xoay thế giới và chúng sanh trở lại nơi mình. Mình ở đây không phải là một trung tâm cái ta nào đó, mình là bản tánh mà khắp cả đều là trung tâm. Mình ở đây là “Trí Đại Viên Cảnh sáng chiếu không hai, trùm khắp mười phương cõi, thân tâm vi diệu trùm chứa cùng khắp pháp giới”. Khi xoay thế giới và chúng sanh trở lại nơi mình, và không có cái gì ở ngoài mình, cái gì cũng là mình, đây là đại từ đại bi và cũng chính là Phật tánh, Phật quả.

Ở trong tâm từ bi, thì khi nghe tiếng chim kêu, tiếng gió trong cây, tiếng người bên hàng xóm, tiếng xe chạy ngang….đều thấy chúng là tâm từ bi, là tánh nghe từ bi trùm khắp. Khi xoay các trần tướng về tánh giác và cũng là tâm từ bi thì các trần tướng trở thành tâm từ bi. Đây là chỗ bắt đầu tương ưng với tánh nghe bất khả phân với từ bi. Đây là “thuần âm không trần, căn cảnh viên dung”. Đây là “huân tu tánh nghe thuần sáng, sáng khắp pháp giới”. Đây là “quán cái nghe xoay trở lại, âm thanh hoàn toàn tiêu vào tánh, dứt hết âm thanh, viên mãn tánh nghe, khắp sanh sức từ”.

Tất cả đều là biểu hiện của tâm từ bi. Tu như thế mới thấy tánh nghe từ bi làm cho mình giàu có biết bao nhiêu, vì tất cả pháp giới chúng sanh đều là mình.

………………………………………

4. Bốn diệu đức vô tác không thể nghĩ bàn.

Bạch Thế Tôn, do con được đạo vô thượng tu chứng viên thông ấy, nên lại khéo được bốn diệu đức vô tác không thể nghĩ bàn.
Một là, do con ban đầu được tánh nghe chí diệu, cái tâm thuần túy không còn tướng nghe, các sự thấy nghe hiểu biết chẳng còn phân cách mà thành Một Bảo Giác viên dung thanh tịnh, nên con có thể hiện ra rất nhiều hình dung mầu nhiệm, có thể nói ra vô biên thần chú bí mật.
Trong ấy hoặc hiện một đầu, ba đầu, năm đầu, bảy đầu, chín đầu, mười một đầu, như thế cho đến một trăm lẻ tám đầu, một ngàn đầu, một vạn đầu, tám vạn bốn ngàn đầu kim cương. Hai tay, bốn tay, sáu tay, tám tay, mười tay, hai mươi, hai mươi bốn tay, như thế cho đến một trăm lẻ tám tay, một ngàn tay, một vạn tay, tám vạn bốn ngàn tay bắt ấn. Hai mắt, ba mắt, bốn Mắt, chín mắt, như thế cho đến một trăm lẻ tám mắt, một ngàn mắt, một vạn mắt, tám vạn bốn ngàn mắt báu thanh tịnh. Hoặc từ, hoặc oai, hoặc định, hoặc huệ, được đại tự tại cứu hộ chúng sanh.

……………………………….

“Ban đầu được tánh nghe chí diệu” là ngộ được, tương ưng được, thấy hiểu được tánh nghe. Tiến lên các địa thì “cái tâm thuần túy không còn tướng nghe”, chấp ngã chấp pháp dần dần tiêu. Khi nhận biết tánh nghe trọn vẹn thì “các sự thấy nghe hiểu biết chẳng còn phân cách mà thành một Bảo giác viên dung thanh tịnh” sáu căn đã trọn vẹn về nguồn tánh viên dung nên viên dung lẫn nhau. Khi ấy tánh tướng các pháp đều là Một Tánh, Một Tánh Bảo Giác viên dung thanh tịnh.

Khi đã xoay tất cả căn trần thức về Pháp thân thì có thể hiện ra nhiều loại Hóa thân, đầu, tay bắt ấn, mắt, số đến tám vạn bốn ngàn. Trở về được thì trở ra được, trở về nguồn tánh được thì trở ra hiện tướng được. Trở về là tánh, trở ra là từ bi.

Tâm ý quán tưởng một Hóa thân, miệng trì tụng thần chú, thân ở trong ấn tương ứng thì gọi là Ba Mật (thân, khẩu, tâm) tương ưng. Thực hành ba mật tương ưng với Hóa thân hiện tướng của Quán Thế Âm, dần dần có thể tương ưng được với Pháp thân, hay Một Bảo giác viên dung thanh tịnh của ngài và của tất cả chư Phật.

Quán tưởng, trì tụng, làm ấn như vậy cũng tức là xoay các tướng về tánh, xoay các căn trần thức bây giờ thể hiện nơi Bổn tôn (Hóa thân) về Pháp thân. Đây cũng là một phương pháp “văn huân văn tu”, huân tu tánh nghe bằng cách xoay lại tất cả cái nghe và âm thanh thanh tịnh được nghe.

……………………………………

Hai là, do cái nghe, cái suy nghĩ của con thoát ra khỏi sáu trần, như tiếng thoát qua tường vách không bị ngăn ngại, nên con có thể diệu dụng hiện ra mỗi mỗi thân, tụng mỗi mỗi chú. Hình ấy, chú ấy có thể đem vô úy thí cho chúng sanh. Thế nên mười phương cõi nước như vi trần đều gọi con là Vô úy thí.

…………………………………..

về nguồn tánh thì sự nghe, nghĩ viên thông, thoát ra khỏi sáu trần, do đó chú của ngài không bị ngăn ngại, như tiếng thoát qua tường vách, đem vô úy thí cho chúng sanh.

Chú là âm thanh giác ngộ của khẩu giác ngộ của một bậc giác ngộ, cho nên năng lực của chú không thể nghĩ bàn. Chú là hóa thân bằng âm thanh của pháp thân giác ngộ. Qua hóa thân bằng âm thanh ấy, người tu có thể đạt đến nguồn của chú, tức là pháp thân giác ngộ. Khi chứng được Pháp thân thì sáu trần không ngoài và chính là Pháp thân. Đây là sự vô úy, không sợ hãi. Đem sự không sợ hãi vì tất cả là mình này ban cho chúng sanh nên được danh hiệu là Vô úy thí.

…………………………………

Ba là, do con tu tập bản tánh diệu viên thông, khiến sáu căn thanh tịnh, nên đi qua thế giới nào đều khiến chúng sanh xả thân cùng đồ qúy báu, cầu con thương xót.

…………………………………..

Xoay căn trần thức trở về nguồn tánh viên thông quý báu nhiệm mầu hơn hết thảy (mà tượng trưng là Phật Bảo Sanh), khi ấy sáu căn là kho báu, nên cảm đến chúng sanh khiến có thể xả bỏ các thứ bên ngoài để về nguồn giác ngộ.

…………………………………

Bốn là, con đắc tâm Phật, chứng đến rốt ráo, có thể dùng đủ thứ quý báu cúng dường mười phương Như Lai. Cả đến chúng sanh sáu nẻo trong pháp giới, người cầu vợ được vợ, cầu con được con, cầu tam muội được tam muội, cầu sống lâu được sống lâu, như thế cho đến cầu Đại Niết bàn được Đại Niết bàn.

…………………………………

Tâm Phật trùm cả thế gian và xuất thế gian nên cầu gì trong ấy cũng đều được. Đây là viên ngọc như ý đủ tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian.

Người tu hành phải toàn thân khẩu ý hướng đến tâm Phật thì mới lợi mình lợi người, đền đáp ơn Phật, Tổ và ơn tất cả chúng sanh.

………………………………..

Phật hỏi về viên thông, con do căn tai và cái nghe mà đạt tam muội viên mãn chiếu soi,  do tâm được tự tại, nhân tướng nhập lưu mà được Tam ma địa, thành tựu Giác ngộ, đó là thứ nhất.

Bạch Thế Tôn, Phật Như Lai ấy khen con khéo được pháp môn viên thông, ở trong đại hội thọ ký con hiệu là Quán Thế Âm. Do con quán tánh nghe tròn sáng thấu suốt mười phương thế giới nên danh hiệu Quán Âm cùng khắp mười phương thế giới.

…………………………………

Nhân nhập lưu, vào dòng tánh nghe rồi đưa tất cả âm thanh về tánh nghe, đây là huân tu tánh nghe. Cho đến hoàn toàn được Tam ma địa, tức là tánh nghe bổn nguyên tự tịnh tự định, thành tựu Giác ngộ.

Chỉ từ một căn tai và cái nghe mà thành Phật. Thật không có cảm hứng và khích lệ nào bằng cho chúng sanh chúng ta. Chỉ từ căn tai và cái nghe là cái ai cũng có và sử dụng hàng ngày mà nguồn tánh và cũng là nguồn từ bi chiếu sáng khắp ba cõi, đưa những diệu dụng là hóa thân, thần chú, tay mắt và danh hiệu khắp mười phương cõi cứu độ cho tất cả chúng sanh.

Danh hiệu Quán Thế Âm, đó là Nền tảng, Con đường và Quả của con đường Bồ tát, tức là con đường thành Phật.

Qua tâm từ bi với tất cả chúng sanh trong ba thời, Đức Quán Thế Âm đã nói cho chúng ta biết những sự tu hành và những thành tựu của ngài. Đây là một tài liệu vô cùng phong phú, rõ ràng chi tiết nhất trong các Kinh, giúp cho chúng ta thực hành không chỉ trong một đời này mà còn rất nhiều kiếp về sau nữa. Ân đức này không thể nào nói hết.

………………………………………..

MỤC NĂM
CHỈ PHÁP VIÊN TU.

1. Phóng ánh sáng, hiện điềm lành.

Bấy giờ Thế Tôn nơi tòa Sư tử, từ năm vóc đồng phóng ánh sáng báu, xa rọi trên đảnh mười phương Như Lai như số vi trần và các Pháp vương tử và các Bồ tát. Các Như Lai kia cũng từ năm vóc đồng phóng ánh sáng báu từ các thế giới như vi trần đến rọi trên đảnh Phật và rọi trên đảnh các Đại Bồ tát và A La Hán trong hội. Rừng cây ao hồ đều diễn pháp âm, ánh sáng giao nhau trùng trùng như lưới tơ báu.
Đại chúng được việc chưa từng có, tất cả đều được Kim cương Tam muội. Liền khi ấy trời mưa hoa sen trăm báu, màu xanh, vàng đỏ, trắng xen lẫn nhau, mười phương hư không thành sắc bảy báu. Cõi Ta bà này đất đai núi sông đồng thời chẳng hiện, chỉ thấy mười phương cõi nước như vi trần hợp thành một cõi, tiếng hát ngợi ca tự nhiên trổi khắp.

………………………………

Đây là cảnh giới và hành động của chư Phật đã chứng trọn vẹn viên thông, cho chúng ta thấy phần nào “chuyển được vật tức đồng Như Lai” là thế nào.

Rọi trên đảnh, tiếng Hán là quán đảnh. Đức Phật toàn thân phóng ánh sáng báu, rọi trên đảnh chư Phật và các Pháp vương tử ở khắp mười phương, và chư Phật ở các phương kia cũng làm như vậy đối với phương này. Chư Phật là một, một thân, một khẩu, một tâm, một đồng thời, một cõi nước một Tâm Phật, một Bảo Giác viên dung thanh tịnh.

Trong Tâm Phật này, “mười phương hư không thành sắc bảy báu cõi Ta bà này đất đai núi sông đều chẳng hiện, chỉ thấy mười phương cõi nước như vi trần hợp thành một cõi”, khi trần tướng đã tiêu tan về tánh thì tất cả tướng là tánh, thông suốt nhau hợp thành duy nhất một cõi Phật. Khi ấy sắc là sắc Phật, thanh là thanh Phật, hương vị xúc pháp là hương vị xúc pháp Phật. Tất cả giao nhau trùng trùng như lưới tơ báu, đây là cảnh giới sự sự vô ngại của các bậc giác ngộ.

……………………………………

2. Phật bảo ngài Văn Thù chọn căn viên thông.

Khi ấy, Như Lai bảo Văn Thù Sư Lợi pháp vương tử: Ông nay hãy xem xét trong hai mươi lăm vị Vô học Đại Bồ tát và A La Hán đây, mỗi vị đều trình bày phương tiện thành đạo lúc ban đầu, đều nói tu tập tánh viên thông chân thật, chỗ tu hành của các vị thật không có hơn kém, trước sau sai khác.
Nay ta muốn khiến A Nan khai ngộ, thì trong hai mươi lăm pháp tu hành, pháp nào hợp căn cơ ông ấy. Lại sau khi ta diệt độ, chúng sanh trong cõi này muốn vào Bồ tát thừa, cầu đạo vô thượng thì pháp môn phương tiện nào được dễ thành tựu.
Văn Thù Sư Lợi pháp vương tử vâng ý chỉ từ bi của Phật, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, thừa oai thần Phật, nói kệ đáp lời:

………………………………………

Đức Phật hỏi ngài Văn Thù lựa chọn căn viên thông, vì ngài Văn Thù là bậc Đại trí thứ nhất trong hội. Vậy mà ngài vẫn nương vào oai lực Phật để nói kệ đáp. Chúng ta ngày nay dám ở ngoài thần lực của chư Phật, chư Đại Bồ tát mà tu hành, học hỏi sao? Chắc hẳn lòng sùng mộ, sùng tín mãnh liệt đối với các ngài sẽ đưa chúng ta đến gần Trí Huệ và Từ Bi của các ngài hơn.

……………………………………….

Tánh biển giác tròn lặng
Toàn trong, giác nguyên diệu
Nguyên minh, chiếu sanh sở
Sở lập tánh chiếu vong.

………………………………………

Biển giác, tánh nó vốn trong lặng (trừng), quang minh, viên mãn, tròn đầy, vốn sẵn (viên). Sự trong lặng viên mãn ấy là cái diệu vốn có của tánh giác, Nhưng trong lặng ấy không phải là một tịch diệt hư vô, mà vốn sáng, vốn là ánh sáng. Và tánh giác trong lặng vốn sáng này có sự chiếu sáng khắp cả pháp giới.

Vô minh là không biết tánh sáng chiếu vốn có này mà chấp vào sự chiếu sáng cho là cảnh ở ngoài tánh sáng (sở). Thấy sự chiếu sáng là đối tượng (sở), ngay lúc đó vọng tưởng về một năng chiếu, một trung tâm là cái tôi được giả lập. Sở đã lập, năng cũng lập, khi ấy không còn thấy biết tánh sáng chiếu, chỉ còn chủ thể và đối tượng.

Khi sở đã lập thì ánh sáng của tâm liền biến mất.

Viên thông là đưa đối tượng sở lập và chủ thể năng lập này xoay lại và tiêu dung trong tánh giác trong lặng và thường chiếu.

……………………………………

Mê vọng, có hư không
Nương không, lập thế giới
Tưởng đọng thành cõi nước
Tri giác là chúng sanh.

…………………………………..

Biển giác thì vốn trong lặng, không tịch và vốn sáng (nguyên minh).

Mê vọng, vô minh đầu tiên là sự phân chia tánh trong lặng, tức là tánh Không một bên và tánh sáng một bên. Tánh Không thì không có tánh sáng, tánh sáng thì không có tánh Không lặng trong.

Cái mê vọng vô minh phát triển thô nặng thêm, tánh Không trở thành hư không trống rỗng và tánh sáng trở thành “sanh sở”, tức là thế giới ảnh hiện theo duyên nghiệp và tri giác phân biệt của chúng sanh.

Rồi sự tu hành xoay trở lại cũng vẫn bị ô nhiễm bởi cái mê vọng ấy: vọng tưởng rằng Niết bàn là cái “không” trống rỗng, và sanh tử là thế giới sắc tướng lộn xộn do phân biệt và các phiền não. Sự phân
chia của sanh tử và Niết bàn cũng là sự phân chia mê vọng ban đầu.

……………………………………..

(Hư) không sanh trong Đại Giác
Như biển, một bọt phát
Cõi hữu lậu như bụi
Đều nương không, sanh khởi
Bọt diệt, (hư) không (vốn) chẳng có
Huống là có ba cõi.

……………………………………..

Vì mê vọng mà có hư không sanh, nhưng dù hư không có hư vọng sanh ra thì cái hư vọng ấy vẫn nằm trong Đại Giác, như một bọt nước phát sanh đều khởi từ biển, hiện hữu trong biển và tiêu tan trong biển.

Ở đây cần thấy rõ là Kinh không nhằm giải thích một vũ trụ mà chúng ta cứ nghĩ là ở bên ngoài mình. Tiến trình này nhằm giải thích vũ trụ sanh ra bên trong chúng ta như thế nào, vì nguyên lý của tất cả kinh điển Đại thừa là “ Ba cõi duy tâm, muôn pháp duy thức” . Do thiền định và thiền quán chúng ta hiểu vũ trụ sanh ra nơi ta như thế nào, và do đó, chúng ta cũng thấy được con đường “ xoay lại trở về” và thực hiện con đường ấy.

Hư không sanh trong tâm Đại Giác của chúng ta, và từ đó có các cõi hữu lậu nhiều như vi trần sanh khởi theo duyên nghiệp và tri giác phân biệt của chúng sanh. Hư không vốn chưa hề có  hư vọng, thì làm sao ba cõi sanh ra từ đó lại có thể có được. Thực sự và trực tiếp thấy được điều này, bèn tức thời giải thoát.

Lại nữa, hư không và các cõi hữu lậu đang thấy đây thì vẫn đang nằm trong biển tâm Đại Giác. Tất cả mọi sắc, dù hư vọng, thì vẫn nằm trong tánh Không và chính là tánh Không: “ Sắc tức là Không, Không tức là sắc” . Thấy được như vậy bèn tức thời “ thoát khỏi mọi khổ ách” .

Trong tham thiền, chúng ta phải vượt qua hư không trong tâm mình thì mới tiếp xúc được với biển Đại Giác, tánh giác Không-Minh, mà các Kinh khác gọi là Tịnh Quang, Thường Tịnh Quang, Đại Quang Minh Tạng…

Chỉ bốn câu kệ mà lập đi lập lại cho thuộc, rồi ngày này sang ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, tham thiền về nó, thì chẳng phải sướng lắm sao, hạnh phúc lắm sao! Làm như vậy chẳng lẽ không thấm chút gì pháp vị của Phật pháp sao?

………………………………………

về nguồn, tánh không hai
Phương tiện có nhiều cửa

Thánh tánh, đâu cũng thông
Thuận nghịch đều phương tiện
Sơ tâm vào tam muội
Nhanh chậm chẳng đồng nhau.

…………………………………

Nguồn tánh, thánh tánh, Phật tánh thì không có hai, và nơi nào cũng có, không chỗ nào chẳng có viên thông (thánh tánh vô bất thông). Và chẳng có sự vật gì mà nó chẳng thông được. Phương tiện có nhiều cửa, thậm chí đâu cũng là cửa vì đâu cũng có mắt tai mũi lưỡi thân ý, sắc thanh hương vị xúc pháp…. Nơi đó thuận nghịch đều là phương tiện, tất cả sanh tử là phương tiện để khám phá tánh của sanh tử tức là tánh viên thông hay Niết bàn.

Tam muội ở đây là “ thật tướng của tất cả các pháp” , là tánh viên thông của tất cả các pháp. Tam muội đây là Kim Cương tam muội, Một Bảo Giác viên dung thanh tịnh của chư Đại Bồ tát và chư Phật. Tam muội là thường định, không tu nữa, Vô học của bậc A La Hán và Vô công dụng đạo của Bồ tát Địa thứ Tám.

Sơ tâm ở đây chỉ cho người chưa vào địa và cũng chỉ cho ngài A Nan mới vào địa. Sơ tâm ấy và tâm cứu cánh là một, vì sự viên mãn đã có sẵn, vì sơ tâm thì viên thông với tâm cứu cánh, vì như hư không, không có đâu là đầu đâu là cuối, và vì các che chướng thì như hoa đốm không thật có.

…………………………………..

3. Lựa ra sáu trần.

Tưởng kết thành sáu trần
Hiểu biết không thể thấu

Không thấu suốt như vậy
Làm sao được viên thông?

………………………………….

Sắc do tưởng kết lại mà thành sắc trần, sự hiểu biết của ý thức khó thấu triệt. Hơn nữa sắc trần là cái ở ngoài. Vươn đến cái ở ngoài để phân tích thấu hiểu nó quả là khó khăn. Như ngài Ưu Ba Ni Sa Bà do quán tưởng bất tịnh mà ngộ được thật tánh các sắc, thì không phải là chuyện dễ làm với nhiều người.

Tuy nhiên, sắc vẫn là một pháp môn, một cửa pháp, tùy căn cơ. Kinh Đại Bát Nhã thường chú ý vào sắc: “ Sắc tức là Không, Không tức là sắc” . Thành ra, chọn lựa căn viên thông là chọn cái dễ nhất, có trường hoạt động rộng nhất và gần với nguồn tánh nhất, chứ không phải là căn duy nhất có được viên thông.

…………………………………..

Âm thanh trộn ngữ ngôn
Chỉ y nghĩa câu chữ
Một chẳng trùm tất cả
Làm sao được viên thông ?

…………………………………….

Ngài Kiều Trần Na do thanh trần là pháp âm của Phật mà chứng được bản tánh nhiệm mầu của âm thanh. Thanh trần đối với con người còn là lời nói và ý nghĩa của lời nói. Hướng ra ngoài để theo dõi âm thanh đã khó, còn phân tích ý nghĩa lại càng khó hơn. Âm thanh là một, nhưng lại phải chạy theo câu chữ và ý nghĩa có nhiều của chúng nên cái một ấy không trùm được tất cả.

…………………………………….

Hương có hợp mới biết
Lìa ắt vốn không có
Chỗ biết chẳng thường hằng
Làm sao được viên thông ?

…………………………………..

Hương do các duyên hợp lại mới biết, cho nên sự biết hương chẳng thường hằng khi có khi không thì khó tu viên thông. Nhưng Đồng tử Hương Nghiêm do quán hương đến chỗ thấu rõ hương là vô tự tánh, vô sở hữu, mà được viên thông, vô lậu. Như vậy vấn đề chính yếu là có đưa được chủ đề mình quán trở lại tánh Không hay không.

…………………………………….

Tánh vị chẳng bổn nhiên
Phải nếm mới có vị
Vị trần chẳng hằng nhất
Làm sao được viên thông ?

……………………………………….

Tánh của vị là Không, nhưng sự quán sát vị không thể thường trực vì khi có khi không. Vả lại trường hiện hữu của vị cũng hẹp, chỉ ở trong miệng, nên không chọn được.

Thế nhưng vì có nguyện làm lương y nên các ngài Dược Vương, Dược Thượng chuyên cần nếm các vị thuốc rồi quán sát biết được tánh của vị trần mà được viên thông.

………………………………………

Xúc do chỗ chạm, biết
Không chạm, chẳng rõ xúc
Hợp lìa không nhất định
Làm sao được viên thông ?

…………………………………….

Xúc không thường có, lệ thuộc vào sự lìa hợp. Như ngài Bạt Đà Bà La do khi tắm mà ngộ được diệu tánh của xúc trần, thì lúc ngộ là do một trường hợp đặc biệt bởi tiếp xúc với nước mà khai phát. Qua đây chúng ta thấy viên thông ở khắp tất cả. vấn đề là chúng ta có chuyên tâm tìm cầu nó hay không.

………………………………….

Pháp gọi là nội trần
Nương trần tâm có sở
Năng sở chẳng khắp hợp
Làm sao được viên thông ?

………………………………………

Pháp là nội trần, là đối tượng của ý. Nhưng pháp không luôn luôn có vì ý không luôn luôn có.

Ngài Ma Ha Ca Diếp liên tục quán sát pháp trần mà trực tiếp chứng biết các pháp là Không mà chứng quả A La Hán. Có điều chúng ta cần luôn nhớ rằng sự chứng ngộ viên thông không phải chỉ là kết quả của trí huệ quán sát, mà còn là kết quả của công đức. Như các vị Vô học ở trước thì được phước duyên là ở gần Đức Phật, nương nhờ oai lực Phật, còn ngài Ma Ha Ca Diếp có công đức là được gần gũi Phật Nhật Nguyệt Đăng, thắp đèn sáng cúng dường xá lợi và dùng vàng thắm thiếp lên tượng Phật.

Con đường Phật giáo bẳt đầu từ hai tích tập trí huệ và công đức, để cuối cùng thành Phật là viên mãn hai tích tập ấy.

…………………………………

4. Lựa ra năm căn.

Cái thấy tuy rỗng suốt
Sáng trước chẳng sáng sau
Bốn bề thiếu một nửa
Làm sao được viên thông ?

………………………………….

Trường hoạt động của cái thấy được tám trăm công đức, không thấy được phía sau. Sự lựa chọn cái viên thông hơn cả là càng ít tùy thuộc vào nhân duyên càng tốt.

Nhưng nhanh hay chậm nhập vào viên thông còn tùy thiện căn biệt nghiệp của từng người. Quan trọng nhất là phải đi cho đến tận cùng đề mục quán chiếu của mình.

…………………………………..

Mũi thở ra vào thông
Giữa giao không có khí
Chia phần chẳng dung nhập
Làm sao được viên thông ?

………………………………..

Giữa hai hơi thở không có hơi thở, nên hơi thở ra vào không liên tục. Hơi thở ra khác với hơi thở vào, nên nói là “ chia phần chẳng dung nhập” .

Nhưng ngài Châu Lợi Bàn Đặc Ca nhờ chỉ chăm chú quán hơi thở cho đến “ xoay hơi thở trở về tánh Không là thứ nhất” , vấn đề là mỗi người có xoay được căn mình đã chọn hợp với những thiện căn đời trước trở về tánh Không hay không.

…………………………………..

Lưỡi, không nhập (thì) không có
Nhân vị sanh hay biết
Vị mất, không có biết
Làm sao được viên thông ?

……………………………….

Cái biết của lưỡi giới hạn, không có vị thì không biết. Ngài Kiều Phạm Bát Đề quán cái biết vị chẳng phải thân, chẳng phải vật, nghĩa là vô tự tánh, bèn khỏi các lậu, lìa hết cấu nhiễm trần tướng đắc Vô học.

…………………………………….

Thân cùng chỗ chạm đồng
Đều chẳng quán khắp hết
Hữu hạn, không thấu suốt
Làm sao được viên thông ?

………………………………….

Cảm giác về thân chỉ có khi có xúc chạm, nên cái quán cảm giác nơi thân không thường trực, khắp hết.

Ngài Tất Lăng Già Bà Ta do gai đâm mà quán ngược về nguồn tánh biết mà đắc A La Hán.

…………………………………..

Ý căn xen loạn tưởng
Đứng lặng rốt chẳng thấy
Không thể thoát tưởng niệm
Làm sao được viên thông ?

…………………………………..

Nương ý căn mà tu thì ý căn xen loạn tưởng, khi đứng lặng thì chẳng thấy ý, do đó khó tu viên thông. Nhưng ngài Tu Bồ Đề nhờ ý căn mà đi tột tới nguồn của ý bèn phát minh được tánh giác chân Không, tánh Không được viên mãn thành quả Vô học.

Căn thì có cái viên thông nhiều hay ít, nhưng chắc chắn đi đến tột nguồn của căn thì đó chính là tánh giác chân Không.

………………………………………

5. Lựa ra sáu thức.

Nhãn thức hòa ba cái
Gạn cùng không có tướng
Tự thể không gì định
Làm sao được viên thông ?

…………………………………..

Nhãn thức do căn trần thức hòa hợp, không có gì định trong ấy, nên không được chọn. Nhưng với người chọn nó để đi đến tận cùng, thì khi “ gạn cùng không có tướng” bèn ngay đó chứng tánh Không vô tướng.

……………………………………..

Tâm nghe suốt mười phương
Sanh do nguyện lực lớn
Sơ tâm khó thể vào
Làm sao được viên thông ?

……………………………………….

Nguyện lực lớn của Bồ tát Phổ Hiền khiến tâm nghe ngài thông suốt mười phương. Sự tu tâm cọng với nguyện lực đã thành ra Đại hạnh Phổ Hiền. Hàng sơ tâm khó có thể nhập vào con đường viên thông của Bồ tát Phổ Hiền.

……………………………………….

Tướng chót mũi (là) quyền cơ
Chỉ để nhiếp tâm trụ
Trụ, tâm thành có trụ
Làm sao được viên thông ?

…………………………………..

Quán tưởng chót mũi là phương tiện quyền cơ, không đi thẳng vào nền tảng. Tuy nhiên khi ngài Tôn Đà La Nan Đà đi đến cùng hơi thở thì đạt đến nền tảng của hơi thở và cùng với nó các lậu được tịnh hóa tiêu sạch, mà được viên thông.

……………………………………..

Thuyết pháp khéo tiếng, câu
Trước khai ngộ mới thành
Câu chữ chẳng vô lậu
Làm sao được viên thông ?

…………………………………….

Thuyết pháp như ngài Phú Lâu Na thì dựa vào câu chữ, phải có sự khai ngộ nguồn viên thông trước rồi mới khéo dùng để thành.

………………………………..

Giữ giới chỉ buộc thân
Không thân, không chỗ buộc
Vốn chẳng khắp tất cả
Làm sao được viên thông ?

…………………………………….

Giữ giới chú trọng vào thân, nên khi không có thân, như trong định, khi ngủ thì không đắc lực.

Nhưng ngài Ưu Ba Ly giữ được giới thân tâm một cách tỉ mỉ nên tương ưng được với Pháp thân viên thông. Qua đây quả là tám vạn bốn ngàn pháp môn, chỗ nào cũng có thể là cửa vào.

Bởi vì cái chánh niệm tỉnh giác trong việc giữ giới cũng chính là tánh giác cội nguồn.

……………………………………

Thần thông: nhân đời trước
Dính gì pháp phân biệt

Duyên niệm chẳng lìa vật
Làm sao được viên thông ?

…………………………………

Thần thông như ngài Mục Kiền Liên là do nhân đời trước. Nó không quan hệ với pháp phân biệt để tìm ra tánh viên thông. Hơn nữa thần thông là thần thông với vật chất, không thoát lìa vật chất, thì làm sao ngộ nhập được tánh viên thông?

…………………………………….

6. Lựa ra bảy đại.

Nếu quán tướng địa đại
Cứng, ngăn không thông suốt
Hữu vi, chẳng thánh tánh
Làm sao được viên thông ?
Nếu quán tướng thủy đại
Tưởng niệm chẳng chân thật
Như như, chẳng phải quán
Làm sao được viên thông ?
Nếu quán tướng hỏa đại
Chán tướng, chẳng thật lìa

Chẳng (phải) phương tiện sơ tâm
Làm sao được viên thông ?
Nếu quán tướng phong đại

Động, lặng là đối đãi
Đối, chẳng (phải) Vô thượng giác
Làm sao được viên thông ?

 ………………………………….

Để được viên thông thì phải đưa các tướng đất, nước, lửa, gió trở về bản tánh vốn viên thông của chúng. Nhưng đối tượng quán là các tướng hữu vi và sự quán tưởng y cứ trên ý thức cũng là một cái hữu vi khác, nên không được chọn làm viên thông số một.

Tuy nhiên tuy làm việc trên các thứ hữu vi nhưng không phải là không đưa đến kết quả cứu cánh. Như Kinh Viên Giác nói, “ Tuy sự quán và đối tượng quán là như huyễn, nhưng ví như dùi lửa, hai thanh gỗ làm nhân cho nhau, khi lửa phát ra thì hai thanh gỗ cháy hết thành tro khói. Lấy huyễn tu huyễn cũng như vậy. Các huyễn tuy hết mà chẳng rơi vào đoạn diệt…. Các huyễn diệt nhưng cái chẳng phải huyễn chẳng diệt. Ví như lau gương, bụi dơ hết thì ánh sáng hiện, tướng dơ bẩn vĩnh viễn diệt thì (tánh Viên Giác) thanh tịnh khắp mười phương” .

…………………………………….

Nếu quán tướng không đại
Trơ trơ không tri giác
Không giác, khác Bồ đề
Làm sao được viên thông ?
Nếu quán tướng thức đại
Quán (và) thức chẳng thường trụ
Còn tâm là hư vọng

Làm sao được viên thông ?
Các hành đều vô thường
Niệm tưởng vốn sanh diệt
Nhân và quả khác nhau
Làm sao được viên thông ?

…………………………………….

Quán không đại, thức đại và kiến đại của ba Đại Bồ tát Hư Không Tạng, Di Lặc và Đại Thế Chí không được chọn làm tối ưu đối với “ chúng sanh ở cõi Ta Bà này” .

Tuy nhiên tất cả hai mươi bốn pháp môn đều đưa đến Tam muội Kim Cương như huyễn, tức là Một Bảo Giác viên dung thanh tịnh, cũng tức là cội nguồn viên thông của tất cả pháp môn. Không có phương tiện nào mà không có cứu cánh nằm ngay dưới đó. Không có tướng nào mà không có chung nền tảng là tánh. Không có pháp môn nào mà không có Pháp hay Pháp thân nằm ngay dưới ấy. Không có Con đường nào mà có thể ra ngoài Nền tảng và không đi trên Nền tảng.

Thế nên, như ở trước Kinh nói, “ tất cả là Như Lai tạng” . Cho nên tất cả sắc thanh hương vị xúc pháp, mắt tai mũi lưỡi thân ý đều là phương tiện, đồng thời đều là cứu cánh, là Con đường đồng thời là Nền tảng và Quả.

Phật giáo trùm khắp là như vậy. Sử dụng màu sắc như y phục, màu trên các tượng Phật và Bồ tát; âm thanh, đủ loại chuông, mỏ, kèn trống, tiếng tụng kinh; các hương thơm, các biểu tượng, kinh điển, thuyết pháp…tất cả đều là phương tiện đồng thời là cứu cánh viên thông, tất cả là tướng khác biệt đồng thời là tánh viên tông chung nhất.

Các Kinh thường nói Trí Huệ và Đại Bi sanh ra phương tiện thiện xảo. Các Bồ tát có nhiều phương tiện thiện xảo. Cho đến Phật thì tất cả sanh tử này là phương tiện thiện xảo của Ngài.

…………………………………………..

7. Căn tai viên thông hơn hết.

Con nay bạch Thế Tôn
Phật ra cõi Ta Bà
Phương này chân giáo thể
Thanh tịnh tại nghe thanh
Muốn được Tam ma đề
Thật do nghe mà nhập.

………………………………………

Ở các cõi Phật khác, có cõi dùng ánh sáng để chỉ bày thật tướng, có cõi dùng hương thơm, có cõi dùng cây Bồ đề…tùy theo duyên nghiệp công đức của cõi đó. Riêng ở cõi Ta Bà này, âm thanh là chủ đạo. Chúng ta cứ xem trong cuộc sống hằng ngày, hầu như cuộc sống là âm thanh. Chúng ta vẫn thường sống với căn tai. Căn tai hiện diện thường trực: khi chúng ta nói chúng ta vẫn nghe. Khi nhìn, vẫn nghe; khi ngửi, vẫn nghe; khi nếm, vẫn nghe; khi đi đứng, vẫn nghe; khi suy nghĩ, vẫn nghe. Căn tai luôn luôn có mặt dù cho các căn kia đang hoạt động, do đó mở nút hay xoay căn tai là dể nhất.

Mở được, xoay được thì đó là tam muội, thanh tịnh, bất biến, đó là tánh viên thông vốn sẵn chưa hề cách lìa chúng sanh một sát na, một cọng tóc.

………………………………….

Lìa khổ được giải thoát
Lành thay Quán Thế Âm
Trong hằng sa số kiếp
Vào cõi Phật vi trần
Được lực đại tự tại
Vô úy thí chúng sanh
Diệu âm, Quán Thế Âm
Phạm âm, hải triều âm
Cứu thế, an lành thảy
Xuất thế, hằng thường trụ

…………………………

Đoạn kệ này tán thán Đức Quán Thế Âm. Quán Thế Âm trở thành vị thành tựu viên thông cái nghe, do đó danh hiệu ngài cũng chính là tánh nghe.

“Viên mãn tánh nghe” nên “lìa khổ, được giải thoát”, là đoạn dứt biến dịch sanh tử và phần đoạn sanh tử. Do đó được lực đại tự tại, thường trụ trong Tam muội Kim cương như huyễn nên “xuất thế hằng thường trụ”, mà lại ở trong thế gian “cứu thế an lành thảy”.

…………………………………..

Con nay bạch Như Lai
Như Quán Âm đã nói
Ví như người ở yên
Mười phương đều đánh trống

Mười chốn đồng thời nghe
Đó là chân viên thông.

……………………………………..

Đây là điều ai cũng chứng nghiệm hàng ngày. Nhưng phải thiền định thiền quán lâu ngày mới nhận ra sự thật hiển nhiên này.

“Mười phương đều đánh trống, mười chốn đồng thời nghe”: nơi nào có tiếng thì khắp nơi đều nghe, tánh nghe có mặt ở khắp cả, không tùy thuộc vào nơi nào âm thanh khởi, cũng không tùy thuộc chỗ nào đứng nghe.

Thật sự ngộ ra được điều này và không bao giờ quên là bắt đầu vào tánh viên thông. Từ khi thật biết chân viên thông này rồi bèn niệm niệm “huân tu tánh nghe thuần sáng, sáng khắp pháp giới” thì mới mong hoàn toàn vào Tam muội Kim cương như huyễn, được đại tự tại.

……………………………………

Mắt không thấy ngoài (ngăn) che
Miệng, mũi cũng như vậy
Thân có hợp mới biết
Ý loạn không mối manh.
Cách vách vẫn nghe tiếng
Xa gần đều nghe được
Năm căn so không bằng
Đó là thật viên thông.

…………………………………….

So sánh với năm căn kia thì cái nghe có ưu thế hơn:

– Cách vách, xa gần đều nghe: tầm hoạt động rộng xa hơn.

 – Cái nghe dễ trung tính hơn, ít dính chấp hơn so với cái thấy.

– Quan trọng nhất là sự thường trực của cái nghe, có tiếng thì nghe, không có tiếng vẫn nghe, khi các giác quan kia hoạt động vẫn nghe. Chính sự thường trực này khiến dể tương ưng với tánh nghe thanh tịnh tương tục không gián đoạn, nghĩa là thường trụ.

Cho nên tu cái đang nghe, đó là huân tu tánh nghe.

………………………………….

Âm thanh, có động tĩnh
Trong cái nghe (thành) có, không
Không tiếng gọi (là) không nghe
Chẳng phải không tánh nghe.
Không tiếng, đã không diệt
Có tiếng, cũng không sanh
Sanh diệt đều trọn lìa
Đó là thường chân thật.

…………………………………..

Đoạn này chỉ thẳng tánh nghe nơi đời sống bình thường, trong trạng thái thức, tuy nhiên, để thấu rõ  nó phải cần Chỉ Quán lâu ngày thì lúc nào đó tánh nghe mới hiện tiền, mới là cái gì cụ thể hiện thực được.

Âm thanh có khi động, khi tĩnh, trong cái nghe nhận biết khi có tiếng khi không tiếng. Nhưng không có tiếng thì không nghe cái có tiếng, chứ vẫn nghe cái không có tiếng. Tánh nghe vẫn thường hằng tại đây và bây giờ. Có tiếng, đó là tánh nghe. Không có tiếng, đó là tánh nghe. Không thể nào thoát ngoài tánh nghe được.

Cũng vẫn cái nghe này mà chạy theo có tiếng và không có tiếng thì sa vào thế giới sanh diệt, vào trần tướng. Còn chính cái nghe này mà tự trụ trong bản vị bất động của nó, thường hằng nghe cả có tiếng và không có tiếng, đây là tánh nghe, hay chính xác hơn, bắt đầu đi vào tánh nghe để cuối cùng là sự viên thông vốn sẵn của tánh nghe.

Đơn giản nếu ngay bây giờ mà nghe xuyên suốt qua âm thanh trần tướng, xuyên suốt qua hư không vắng lặng, thì đây là tánh nghe không lúc nào không nghe. Rồi sống trong tánh nghe, nghĩa là huân tu tánh nghe cho đến. khi viên mãn.

Tánh nghe ấy thường trụ bất động, không phải vì không có tiếng mà diệt, không phải vì có tiếng mà sanh. Trực tiếp thấy biết, chứng ngộ điều này tức là biết tánh nghe không sanh không diệt thì thoát khỏi sanh tử luân hồi sanh diệt.

Khi đã thật sự thấy biết tánh nghe không sanh không diệt thì thường xuyên an trụ trong tánh nghe ấy, chuyển hóa, nghĩa là đưa các tướng sanh diệt trở về với bản tánh không sanh không diệt của chúng. Đến lúc “sanh diệt đều trọn lìa”, nghĩa là không còn có chút tướng sanh diệt nào nữa, tất cả chỉ là cái không sanh không diệt: “ không tiếng đã không diệt, có tiếng cũng không sanh” . Tướng sanh diệt tức là tánh không sanh không diệt. Nói cách khác, tánh vốn không sanh không diệt mà tướng cũng không sanh không diệt.

Đây là trạng thái “thường chân thật”, hay là Tam muội Kim cương như huyễn do huân tu tánh nghe mà thành tựu.

…………………………………..

Dầu cho trong mộng tưởng
Không nghĩ mà thành không

Tánh nghe ngoài suy nghĩ
Thân tâm không đến được.

…………………………………..

Tánh nghe hiện hữu siêu vượt mọi trạng thái của thân tâm, khi ngủ mộng, khi thức, khi suy nghĩ và khi không suy nghĩ. Nhưng siêu vượt mọi trạng thái, mọi hoạt động nhưng trong trạng thái nào hoạt động nào cũng có nó, vì nó là nền tảng cho tất cả, tam muội vốn sẵn từ đó mọi trạng thái tâm xuất sanh.

Hãy tìm thấy nó để được giải thoát khi ở đâu cũng có nó, lúc nào cũng có nó, trạng thái nào cũng có nó.

…………………………………..

Nay cõi Ta Bà này
Thanh luận được tuyên giảng
Chúng sanh mê gốc nghe
Theo thanh nên lưu chuyển.
A Nan tuy nhớ rõ
Chẳng khỏi lạc niệm tà
Há chẳng tùy chỗ đắm
Xoay dòng thoát hư vọng.

………………………………………

Nhờ sự luận giải bằng âm thanh lời nói mà tánh nghe được chỉ bày. Tuy nhiên khi mê gốc nghe mà chạy theo tiếng thì bị lưu chuyển, đây là trường hợp ngài A Nan. Ngài tuy nhớ rõ thanh luận nhưng bỏ quên gốc nghe, sau này lại đắc A La Hán vô lậu ngài mới nói lại những lời của Đức Phật để thành Kinh. Khi ấy, mở đầu Kinh, ngài nói “Tôi nghe như vầy…”, bấy giờ thanh luận đã được nghe mới từ tánh nghe lưu xuất.

Đắc vô lậu bởi vì không còn bị trôi nổi chìm đắm theo âm thanh, không còn bị lạc niệm tà theo sự quyến rũ của Ma Đăng Già, mà đã “xoay dòng cái nghe thoát khỏi hư vọng”, an trụ trong Tam ma địa.

Đây chỉ nói đến thanh luận của Phật giáo, còn thanh luận của đời thì càng làm người ta mê mờ lạc xa hơn nữa.

…………………………………….

A Nan, ông nghe kỹ
Tôi nương oai lực Phật
Tuyên nói chân Tam muội
Kim cương vương như huyễn
Phật mẫu, chẳng nghĩ bàn.
Ông tuy nghe mọi pháp
Bí mật của chư Phật
Trước chẳng trừ dục lậu
Chứa nghe thành lầm lỗi
Dùng nghe, giữ pháp Phật
Sao chẳng nghe cái tự nghe?

…………………………………….

Ngài Văn Thù nương nơi oai lực Phật tuyên nói Tam muội Kim cương Như huyễn, là Mẹ sanh ra chư Phật. Đây cũng chính là Pháp thân tánh nghe của tất cả chư Phật.

Sở dĩ ngài A Nan không đạt được Tam muội là sự an toàn, giải thoát vĩnh viễn này là do “trước chẳng trừ dục lậu” mà chỉ “dùng nghe, giữ pháp Phật, chứa sự nghe nhiều thành lầm lỗi”. Tu hành cần những bước sơ bộ, những bước làm quen với con đường, để bước vào thực hành đích thực chứ chứa nhiều cái nghe, giữ nhớ nhiều pháp Phật cũng chẳng ích gì cho giải thoát. Trước cần phải trừ dục lậu nghĩa là giữ giới để được thanh tịnh. Tiến lên nữa, giữ giới tâm là Định. Từ đây mới bừng phát ra Huệ, nghĩa là cái thấy biết thực sự tánh nghe. Nhờ cái thấy biết thanh tịnh của Huệ mới quét sạch dục lậu.

Chân Tam muội này xưa nay vẫn hiện tiền trước mắt, chỉ vì không chuẩn bị đủ, không được chỉ dạy và không được tinh tấn huân tu mà chẳng thể nghiệm được.

“Sao chẳng nghe cái tự nghe”, đây là pháp bí mật, nhưng cũng quá hiển nhiên, và là mẹ của chư Phật. Khi đã phát khởi đủ niềm tin, thì chỉ Chỉ, Quán, Thiền một câu này, có ngày ắt sẽ bắt gặp cái tự nghe này. Nó cụ thể hơn tất cả những cái cụ thể, vì nó là mẹ của tất cả cái cụ thể. Nó hiện thực hơn tất cả những cái hiện thực, vì nó là mẹ của tất cả những cái hiện thực. Khi ấy cái gì chẳng phải là Nó?

………………………………….

Tánh nghe chẳng tự nhiên sanh
Nhân thanh có danh tự
Xoay cái nghe thoát khỏi tiếng
Giải thoát đâu có danh.
Một căn đã về nguồn

Sáu căn thành giải thoát

……………………………………..

Cái tự nghe này là tánh nghe hay tánh giác. “Tánh nghe chẳng tự nhiên sanh” vì nó là vô sanh, “ngoài suy nghĩ, thân tâm không đến được”. Tánh nghe vô sanh ấy chỉ nhân âm thanh mà hiện diện với con người nên có danh tự là tánh nghe, chứ nó chẳng dính dáng gì đến sự có hay không có âm thanh, giải thoát hay chẳng giải thoát.

Với con người “khi xoay cái nghe thoát khỏi tiếng” thì ngay đó là nó ngay đó gọi là giải thoát, chứ nó không có vấn đề giải thoát vì đã từng bị trói buộc bởi tiếng hay không tiếng đâu. Với con người khi “một căn đã về nguồn” thì “sáu căn thành giải thoát”. Nhưng với tánh nghe vốn giải thoát thì khi một căn chưa về nguồn, đó cũng là giải thoát, vì nó không có nguồn. Nó đã từng dính một âm thanh nào đâu mà bảo là cần giải thoát.

………………………………….

Thấy, nghe, như lòa, huyễn
Ba cõi như không hoa
Xoay nghe, gốc lòa trừ
Trần tiêu, Giác viên tịnh
Tịnh tột, quang thông suốt
Lặng chiếu trùm hư không.

…………………………………..

Thấy nghe của con người là do vọng thấy biệt nghiệp và vọng thấy đồng phận, do bệnh phân biệt không nhân gì mà có, nên như lòa, như huyễn. Ba cõi sanh tử do gốc bệnh phân biệt thành lòa mà có nhưng cũng chẳng nhân vào đâu. Như trước đã nói, do mắt mỏi mệt mà thấy có hoa sanh ra giữa hư không, do tai mỏi mệt mà bám theo phân biệt các âm thanh mà không biết cội nguồn vô sanh của chúng. Ba cõi chỉ là quên mất nguồn tánh vô sanh mà thành như huyễn mỏi mệt.

Muốn thoát khỏi ba cõi không hoa này thì xoay cái thấy cái nghe về cội nguồn vô sanh của chúng. Khi ấy không những tự mình thoát khỏi ba cõi mà còn thoát khỏi những khổ đau của chúng sanh ba cõi. Khi thấy khổ đau, nghiệp báo của chúng sanh là không thật thì mới có can đảm ở lại nơi này mà cứu độ chúng sanh. Sự cứu độ lúc này là cứu độ từ nhân, từ gốc: mọi khổ đau của chúng sanh từ gốc lòa của chúng sanh mà có. Chính vì thấy chúng sanh hạnh phúc và khổ đau đều do gốc lòa mà có thì đại bi này mới hoàn toàn chân thật và không rời đại trí được.

Đây là công năng của Như huyễn trong Tam muội Kim cương Như Huyễn.

Tánh viên thông thì “lặng chiếu (tịch chiếu) trùm hư không”.

Trong Đại định Kim cương Như huyễn và cũng là tánh giác viên thông này thì Kim cương là tịch, là lặng, là chân Chỉ, còn Như huyễn là chiếu, là chân Quán. Lặng và chiếu là đồng thời, không hề lìa nhau. Kim cương và Như huyễn là đồng thời, không hề lìa nhau. Đây chính là tánh viên thông. Chỉ cần xoay lại thì tánh viên thông này hiện tiền, vì từ vô thủy đến nay chúng ta vẫn sống trong nó mà không tin, không biết.

“ Xoay nghe gốc lòa trừ” . Xoay nghe, liền tiếp xúc với thực tại Không, Vô tướng, Vô niệm, Vô trụ. Xoay nghe, đây là thiền định. Rồi an trụ trong thiền định đó thì đây là chánh định, tam muội. Tam muội này cũng chính là tánh nghe thường trụ vì không có bắt đầu không có chấm dứt.

……………………………………..

Xem (quán) trở lại thế gian
Giống như việc trong mộng
Ma Đăng Già trong mộng
Ai bắt được hình ông?
Như huyễn sư khéo trong đời
Huyễn làm các nam nữ
Tuy thấy các căn động
Cốt do một máy giật
Máy nghỉ đều lặng yên 
Các huyễn thành vô tánh.

……………………………………….

Khi lọt được vào Tam muội Kim cương Như huyễn, vào tánh giác viên thông, trụ được ở trong đó, thì xem trở lại thế gian, tất cả đều như mộng, như huyễn. Như mộng như huyễn thì không còn gì để tác động và trói buộc mình được. Thực thấy ba cõi đều như mộng như huyễn thì đó là giải thoát, đó là tự do, bởi vì lúc ấy không ai có thể khoác cho mình cái áo nào cả, dù là áo chúng sanh hay là áo ngộ đạo.

Ba cõi như mộng như huyễn vì đó là trò ảo thuật của huyễn sư vô minh phân biệt chấp trước lâu đời. Thấy có người qua kẻ lại, người lên cao người rớt thấp, người giàu sang người nghèo hèn.. .tất cả là trò huyễn thuật do một bộ máy dật dây điều khiển, rồi hoa mắt mà lăn lộn, đấu tranh, trôi nổi.

Xoay các trò huyễn thuật này trở về nguồn tánh vô sanh thì “máy nghỉ đều lặng yên, các huyễn thành vô tánh”. Đây là Tam muội Kim cương Như huyễn.

…………………………………..

Sáu căn cũng như thế
Vốn y một tinh minh
Phân thành sáu hòa hợp
Một chỗ đã về nghỉ
Sáu dụng đều chẳng thành
Ngay đó trần cấu tiêu
Thành viên minh tịnh diệu
Trần còn là Hữu học
Sáng tột tức Như Lai.

………………………………………

Sáu căn vốn y vào một tánh tinh minh, thuần sáng tỏ, trong ngoài đều sáng suốt. Tánh tinh minh thì căn cũng tinh minh, thức và trần đều tinh minh, như gương sáng thì tất cả các bóng trong ấy đều là gương sáng.

Ngay nơi các căn “sáu hòa hợp” này mà nhìn ra được nguồn của chúng “vốn là một tinh minh”, vốn cùng một nguồn ánh sáng, đó là chỗ bắt đầu của huân tu tánh thấy.

Sở dĩ có trần cấu, có các tướng “lấn ép nhau” là do bộ máy vô minh phân biệt chấp trước mà thành loạn động. Xoay các tướng về tánh vô sanh thì tất cả đều vô sanh, tịch tịnh, tròn sáng.

Sáu căn vốn rỗng rang thanh tịnh, không có chấp tướng rồi chạy theo tướng, không có trần cấu. Khi xoay được một căn trở về nguồn tánh tinh minh, tất cả sáu căn thành mở thoát, không còn làm cái dụng cho vô minh phân biệt, tất cả đều “về nghỉ” trong tánh tinh minh thanh tịnh. Bấy giờ tất cả tướng đều là tánh, trần cấu tiêu tan như chưa từng có.

Tất cả xưa nay vốn là Viên minh tịnh diệu, không có tánh tướng phân chia nào cả. Chi vì một niệm bất giác, khởi lên năng sở, từ đó phân chia rối bời. Cho nên “chuyển vật tức đồng Như Lai”, chuyển được các vật sai biệt về Như Lai tạng diệu chân như tánh, xoay cái nghe cái thấy về nguồn tánh là Một Bảo giác viên dung thanh tịnh, Một Phật tâm, thì đây là con đường trở lại Phật tánh vốn đã viên thành xưa nay của mình.

Trên con đường trở lại ấy, trên cái đương xứ đương niệm vốn đã thành Phật ấy, sự phân biệt, các cấp bậc tu chứng được xác định bằng thanh tịnh nhiều hay ít, trần cấu hư vọng còn nhiều hay ít: “Trần còn là Hữu học, sáng tột tức Như Lai”.

……………………………………….

Đại chúng và A Nan!
Xoay cơ nghe điên đảo
Xoay nghe, nghe tự tánh
Tánh thành: vô thượng đạo.
Viên thông thật như vậy
Đây một đường Niết bàn
Của hằng sa chư Phật
Chư Như Lai quá khứ
Đã thành tựu môn này
Các Bồ tát hiện tại

Nay đều vào viên minh
Người vị lai tu học
Hãy y pháp như thế
Con cũng trong ấy chứng
Chẳng riêng Quán Thế Âm.

…………………………………….

“ Đại chúng và A Nan! (hãy) xoay cơ nghe điên đảo …” , sự kêu gọi thức tỉnh trực tiếp tức khắc để xoay về.

Viên thông là xoay cái nghe trở lại nghe tự tánh (phản văn, văn tự tánh) và khi sự chứng nghiệm tự tánh hoàn thành viên mãn, thì đây là Giác ngộ, là Vô thượng đạo. Đây là một đường đến viên thông, tự tâm Niết bàn, Pháp thân thanh tịnh bổn nhiên, toàn khắp pháp giới của tất cả các bậc giác ngộ, tất cả các Bồ tát quá khứ, hiện tại, vị lai.

Khi có được xác tín như vậy người tu học chúng ta niệm niệm đều xoay cái nghe trở lại nghe tự tánh. Xoay nghe, đó chính là tự tánh, rỗng suốt tất cả không gian thời gian. Một niệm xoay về là một niệm chứng ngộ, niệm niệm xoay về là niệm niệm chứng ngộ. Một nhân xoay về là một quả chứng ngộ. Đây là nguyên lý chung cho chư Phật, Bồ tát và chúng sanh. Còn nhanh hay chậm, toàn phần hay ít phần, điều đó hoàn toàn thuộc về người tu.

Tự tánh thì có sẵn trong bất cứ lúc nào, nơi nào, nên lúc nào xoay nghe thì liền nghe được tự tánh. Lúc ấy cái nghe chính là tánh nghe. Như thế thì lúc nào cũng tu, lúc nào cũng chứng.

……………………………………..

Thật như lời Thế Tôn
Hỏi con các phương tiện

Để cứu đời mạt pháp
Người cầu xuất thế gian
Thành tựu tâm Niết bàn
Quán Thế Âm hơn cả.
Còn các phương tiện khác
Đều là Phật oai thần
Ngay sự, bỏ trần lao
Chẳng dễ thường tu học
Sâu cạn đều đã thuyết.

………………………………………..

Ngài Văn Thù trả lời câu hỏi của Đức Phật, rằng người cầu thoát khỏi sanh tử trong các đời sau thì tu nhĩ căn viên thông theo Bồ tát Quán Thế Âm là hơn cả. Các phương tiện pháp môn khác đều là lời chỉ dạy oai thần của Đức Phật để ngay nơi sự mà bỏ trần lao, nhưng khó có thể thường xuyên tu học với tất cả mọi căn cơ sâu và cạn.

Ngay sự bỏ trần lao thì ngay nơi cái nghe mà xoay về tánh nghe thì trực tiếp hơn vì không phải qua trung gian quán tưởng nào và cũng dễ dàng vì cái nghe thì ai cũng nhận ra ngay và luôn luôn có săn.

Ngay sự bỏ trần lao bằng cái nghe là phương tiện thích hợp hơn cả đối với cõi này và thời đại này. Còn nhanh hay chậm, sâu hay cạn là tùy thuộc vào mỗi người.

……………………………………

Đảnh lễ Như Lai tạng
Vô lậu, chẳng nghĩ bàn

Nguyện gia bị vị lai
Không lầm trong pháp này.
Phương tiện dễ thành tựu
Nên dùng dạy A Nan
Cùng đời sau chìm đắm
Chỉ dùng căn này tu
Viên thông hơn tất cả
Tâm chân thật như vậy

…………………………………….

Viên thông do căn tai là thích hợp hơn cả đối với ngài A Nan lúc ấy và chúng sanh đời sau chìm đắm. Xoay nghe là “ phương tiện dễ thành tựu” , ai cũng có ngay bây giờ.

 Sau khi lựa chọn căn viên thông, ngài Văn Thù cầu nguyện Như Lai tạng, là cái bổn nguyên của chư Phật và chúng sanh, gia bị cho đời sau không lầm lỗi trong pháp nhĩ căn viên thông này.

Ngài Văn Thù là thầy của bảy Đức Phật, khi ngài nói bằng tâm chân thật thì tâm này cũng là tâm chư Phật. Để nói về nhĩ căn viên thông, bắt đầu Đức Phật và chư Phật phóng hào quang biến tất cả các cõi thành một pháp giới viên dung khiến đại chúng được vào Tam muội Kim cương, đây là sự chứng minh cho những lời ngài Văn Thù sắp sửa nói. Kết thúc bài kệ chọn lựa căn viên thông, ngài Văn Thù xác định lời nói của mình từ tâm chân thật, tức là Phật tâm, quả thật, đây là quyết định chọn lựa của chư Phật. Chỉ riêng đoạn kinh chọn lựa căn viên thông này, có đủ Tín, Nguyện, Hạnh cho người tu hành của đủ mọi loại căn cơ sâu cạn.

……………………………………..

Ngay đó, A Nan cùng cả đại chúng thân tâm sáng tỏ, được đại khai thị, thấy rõ Giác ngộ và Đại Niết bàn của Phật, như người nhân có việc đi xa chưa trở về ngay được, song đã biết rõ con đường về nhà.

Khắp trong chúng hội, tám bộ Trời Rồng, hàng Hữu học Nhị thừa và tất cả các Bồ tát mới phát tâm, số lượng bằng mười hằng sa đều nhận biết được bản tâm, xa lìa trần cấu, được pháp nhãn tịnh. 

Tánh tỳ kheo ni nghe nói xong kệ, thành A La Hán. Vô lượng chúng sanh đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

……………………………………..

Bài kệ kết thúc lựa chọn căn viên thông, với sự chứng minh chấp nhận của chư Phật đã đưa tâm thức đại chúng lên một tầm cao mới. Xoay nghe, đây là con đường về nhà rõ ràng trước mắt, dầu có thể chưa về được ngay.

“Nhận biết được bản tâm, xa lìa trần cấu, đắc pháp nhãn tịnh” là Sơ địa của hàng Bồ tát Thập địa và Sơ quả Nhập lưu của hàng Thanh Văn, cũng là Kiến đạo vị chung cho cả hai thừa. Kiến đạo vị là thấy rõ con đường trở về nhà, từ đây mới thật sự đi mà không lầm lạc. Thấy rõ nguồn tánh viên thông, huân tu trên chính tánh viên thông ấy, đây là Tu tập vị hay Con đường thiền định thiền quán. Đến lúc hết sạch trần cấu, hoàn toàn thanh tịnh, là Con đường không tu nữa, từ Địa thứ Tám Vô sanh pháp nhẫn cho đến thành Phật.

Đặc biệt Tánh tỳ kheo ni, tức cô Ma Đăng Già, tuy ban đầu thì có vẻ kém sút hơn ngài A Nan, mà đến đây đắc quả A La Hán, tương đương với Vô sanh pháp nhẫn. Chỉ trừ Đức Phật và các Đại Bồ tát ai dám thấy những sự kiện bằng mắt thường mà đoán định căn cơ?

…………………………………….

CHƯƠNG BA
RỘNG ĐỂ LẠI KHUÔN PHÉP TU HÀNH
MỤC I. NGÀI A NAN XIN CỨU ĐỘ ĐỜI VỊ LAI,
PHẬT NÊU BA NGHĨA QUYẾT ĐỊNH.

A Nan nghiêm chỉnh y phục, ở trong đại chúng chấp tay đảnh lễ, tâm tư tròn sáng, vừa mừng vừa tủi. Vì muốn làm lợi ích cho các chúng sanh đời vị lai nên cúi đầu bạch Phật: Đại bi Thế Tôn, nay con đã ngộ pháp môn thành Phật nên ở trong đó không còn nghi lầm. Con thường nghe Như Lai dạy như vầy, mình chưa được độ, trước muốn độ người, là sự phát tâm của các Bồ tát. Tự giác đã tròn, thường giác cho người, là sự ứng thế của Như Lai. Con tuy chưa được độ, song nguyện độ tất cả chúng sanh đời mạt thế.

Bạch Thế Tôn, các chúng sanh ấy cách Phật ngày càng xa, tà sư thuyết pháp nhiều như cát sồng Hằng, muốn nhiếp tâm họ vào Tam ma địa thì làm sao khiến họ an lập đạo tràng, lìa các ma sự, nơi Bồ đề tâm không lui sụt?

………………………………..

Ngài A Nan có tâm Bồ tát, mình chưa được độ trước muốn độ người, tuy chưa được độ nhưng nguyện độ tất cả chúng sanh các đời sau. Đây là vì các đời sau mà hỏi, chứ tự ngài đã rõ con đường về nhà. Tâm vươn tới, lo cho các đời mạt thế, tâm ấy phải rộng lớn bao la biết bao. Tâm càng ngày càng sâu rộng, đó là sự tu của Bồ tát.

……………………………………..

Bấy giờ Thế Tôn ở trong đại chúng khen ngợi A Nan: Lành thay, lành thay! Như chỗ ông hỏi về an lập đạo tràng, cứu vớt chúng sanh trầm luân trong đời mạt kiếp, nay ông hãy nghe kỹ, ta sẽ nói cho ông.

A Nan và đại chúng vâng nghe lời dạy.

Phật bảo A Nan: Ông thường nghe trong Luật tạng ta tuyên nói ba nghĩa quyết định của sự tu hành, đó là nhiếp tâm là Giới, nhân giới sanh Định, nhân định sanh Huệ. Ấy gọi là Ba vô lậu học.

………………………………….

Chỉ lấy ba câu kệ của ngài Văn Thù trong lựa căn viên thông là thấy Giới Định Huệ.

“Xoay cơ nghe điên đảo” : không cho cái nghe chạy theo thanh trần, đây là giới.

“Xoay nghe, nghe tự tánh” : xoay cái nghe ấy trở về để nghe tự tánh, đây là định.

“Tánh thành: Vô thượng đạo” : tánh viên thông “sáng suốt khắp cả pháp giới”, đây là huệ.

Khi tánh viên thông thành tựu thì cả ba giới định huệ đồng thể. Chân giới, chân định, chân huệ là tánh giác Minh Không viên thông vậy.

………………………………..

A Nan, thế nào nhiếp tâm gọi là giới?

Nếu các chúng sanh lục đạo trong các thế giới tâm họ chẳng dâm, ắt chẳng theo đó mà có sanh tử tương tục. ông tu tam muội cốt để ra khỏi trần lao, nếu tâm dâm không trừ thì không ra khỏi được. Dầu có nhiều trí, thiền định hiện tiền mà không đoạn trừ dâm, ắt lạc vào đường ma, hạng trên làm ma vương, hạng giữa làm ma dân, hạng dưới làm ma nữ. Các ma kia cũng có đồ chúng, mỗi mỗi tự cho là thành đạo vô thượng.

Sau khi ta diệt độ, trong đời mạt pháp có nhiều bọn ma này lẫy lừng trong thế gian, lan rộng hành vi tham dâm, giả làm thiện tri thức, khiến các chúng sanh sa vào hầm ái kiến, lạc mất con đường giác ngộ.

 Ông dạy người đời tu Tam ma đề, trước phải đoạn lòng dâm. Đó là lời dạy rõ ràng thanh tịnh, quyết định thứ nhất của Như Lai, Phật, Thế Tôn.

Thế nên, A Nan, nếu chẳng đoạn dâm mà tu thiền định thì cũng như người nấu cát đá mà muốn thành cơm, trải qua trăm ngàn kiếp cũng chỉ gọi là cát nóng. Vì sao thế? Vì đó chẳng phải gọi là gốc cơm, chỉ là cát đá. Ông đem thân dâm mà cầu diệu quả Phật dầu được diệu ngộ đều là gốc dâm, căn bản đã thành dâm thì chỉ luân chuyển trong ba nẻo sanh tử ắt không ra khỏi, đường nào mà tu chứng Niết bàn của Như Lai?

Hẳn phải khiến cho thân tâm đều đoạn dứt sự dâm, cho đến tâm đoạn dứt cũng không còn, thì đối với Giác ngộ của Phật mới có thể trông mong.

Như ta nói đây gọi là lời Phật, chẳng như đây nói là lời ma Ba Tuần.

………………………………….

Nguyên nhân trực tiếp cụ thể của sự sanh tử tương tục, đó là tâm dâm. Con người sanh ra từ dâm dục, lớn lên tiếp tục hành dâm, do đó nghiệp dâm không dứt. Cái ám ảnh thân tâm suốt đời, đó là dâm dục, thế mới biết gốc rễ ăn sâu chừng nào. 

“Dầu có nhiều trí, thiền định hiện tiền mà không đoạn trừ dâm ắt lạc vào đường ma”, “đem thân dâm mà cầu diệu quả Phật, dầu được diệu ngộ đều là gốc dâm ” . Thân tâm ta còn bị dâm dục chướng ngại thì tâm ấy không thể xoay trở lại nguồn tánh vốn viên thông và vô sanh được. Trái lại sự tiếp xúc, tiếp thông với nguồn tánh mà qua trung gian tâm dâm thì cũng biến đổi, làm ô nhiễm sự thấy biết nguồn tánh vốn viên thông vô ngại này.

Cho nên phải cảnh giác với sự ô nhiễm này. Chúng ta đều có nghiệp chung là dâm dục, dù ít hay nhiều. Nhưng dù ít hay nhiều thì cũng phải học bài học chuyển hóa sự tham muốn dâm dục thành lửa trí huệ như ngài Ô Sô sắt Ma do hỏa đại chứng viên thông. Tâm dâm vừa khởi liền đưa nó xoay về nguồn, đó là huân tu tánh viên thông.

……………………………………

A Nan, lại các chúng sanh lục đạo trong các thế giới nếu họ không có tâm giết hại ắt chẳng theo dòng sanh tử tương tục. Ông tu tam muội cốt để ra khỏi trần lao, nếu tâm giết hại không trừ thì không ra khỏi được. Dầu có nhiều trí, thiền định hiện tiền mà không đoạn trừ giết hại, ắt lạc vào thần đạo, hạng trên làm đại lực quỷ, hạng giữa làm dạ xoa phi hành và các quỷ soái, hạng dưới làm la sát địa hành. Các quỷ thần ấy cũng có đồ chúng, mỗi mỗi tự cho là thành đạo vô thượng.

Sau khi ta diệt độ, trong đời mạt pháp có nhiều thứ quỷ thần này lẫy lừng trong thế gian, tự nói ăn thịt được đạo Giác ngộ.

A Nan, ta cho tỳ kheo ăn năm thứ tịnh nhục, thịt ấy đều do thần lực ta hóa sanh, vốn không có mạng sống. Xứ Bà la môn các ông đất đai phần nhiều nóng ướt, lại thêm sỏi cát, rau cỏ không sanh,ta dùng sức đại bi gia bị giả gọi là thịt, các ông cũng được vị ấy.

Làm sao sau khi Như Lai diệt độ, người ăn thịt chúng sanh mà gọi là Phật tử, những người ăn thịt ấy dầu được tâm khai mở, giống như Tam ma đề, đều là đại la sát, quả báo hết phải chìm đắm trong biển khổ sanh tử, chẳng phải là đệ tử Phật. Những người như thế giết hại nhau, ăn nuốt nhau không thôi, làm sao ra khỏi ba cõi được?

Ông dạy người đời tu Tam ma đề, phải đoạn trừ sát sanh, đó là lời dạy rõ ràng thanh tịnh quyết định thứ hai của Như Lai, Phật, Thế Tôn.

Thế nên, A Nan, nếu chẳng đoạn giết hại mà tu thiền định thì cũng như có người tự bịt kín lỗ tai, cất tiếng kêu lớn mà mong người khác không nghe, những việc ấy gọi là muốn ẩn thì càng lộ. Hàng tỳ kheo thanh tịnh và các Bồ tát đi trên đường rẽ, không dẫm cỏ tươi huống là lấy tay nhổ. Làm sao có lòng đại bi mà lấy thịt chúng sanh làm đồ ăn?

Nếu các hàng tỳ kheo không mặc những tơ lụa phương Đông và không dùng giày dép áo lông hay các thứ sữa, pho mát đề hồ cõi này thì những tỳ kheo ấy đối với thế gian thật thoát khỏi sự báo đền nợ nghiệp, chẳng đi trong ba cõi. Vì sao thế? Vì dùng những bộ phận cơ thể chúng sanh thì có duyên nợ với nhau, như con người ăn trăm thứ mễ cốc của đất thì chân không lìa khỏi đất. Quyết phải khiến cho thân tâm đối với bộ phận thân thể chúng sanh đều không ăn, không mặc, những người như thế, ta mới gọi là thật giải thoát.

Như ta nói đây gọi là lời Phật, chẳng như đây nói là lời ma Ba Tuần.

……………………………………..

Giết hại chúng sanh để ăn, để mặc là phạm vào nhân quả nghiệp báo, hết đời này sang đời khác cứ nợ nghiệp chồng chất thì làm sao mà giải thoát. Muốn đạt đến tánh thanh tịnh viên thông thì thân tâm cũng phải thanh tịnh viên thông.

Viên thông là đồng với tất cả chúng sanh trong lục đạo mười phương đồng một bi ngưỡng. Giết hại để làm lợi cho mình thì làm sao hợp với lòng bi viên thông?

Viên thông là thanh tịnh bổn lai, toàn khắp pháp giới cho nên chỗ nào mà phạm đến sự thanh tịnh này, toàn khắp này, nghĩa là giới không toàn vẹn, thì pháp giới đã mất một phần viên thông.

……………………………………

A Nan, lại các chúng sanh lục đạo trong các thế giới, lòng chẳng trộm cắp ắt chẳng theo dòng sanh tử tương tục. Ông tu tam muội cốt để ra khỏi trần lao, nếu lòng trộm cắp chẳng trừ thì chẳng thể ra khỏi. Dầu có nhiều trí, thiền định hiện tiền mà không đoạn dứt sự trộm cắp ắt lạc vào tà đạo, hạng trên làm tinh linh, hạng giữa làm yêu mị, hạng dưới làm người tà, bị các quỷ mị nhập vào. Các đám tà kia cũng có đồ chúng, mỗi mỗi tự cho là thành đạo vô thượng.

Sau khi ta diệt độ, trong đời mạt pháp lắm thứ yêu tà đó lẫy lừng trong thế gian, dối gian ẩn núp, tự xưng là thiện tri thức, tự nói là đã được pháp thượng nhân, lừa gạt người không biết, dọa dẫm khiến mất chánh tín, chúng qua đến đâu cửa nhà hao tán.

Ta dạy hàng Tỳ kheo thứ lớp khất thực để bỏ lòng tham, thành đạo Giác ngộ. Các Tỳ kheo không tự nấu ăn, gởi cái sống còn thừa nương tạm nơi ba cõi, thị hiện một lần đi về, đi rồi không trở lại. Sao có thể làm kẻ giặc, nương y phục của ta để buôn bán Như Lai, tạo các thứ nghiệp mà gọi là Phật pháp; lại còn chê bai các Tỳ kheo xuất gia đầy đủ giới luật là đạo Tiểu thừa, do đó làm cho vô số chúng sanh nghi lầm mà đọa địa ngục vô gián.

Sau khi ta diệt độ, nếu có tỳ kheo phát tâm quyết định tu tam ma dề, có thể ở trước hình tượng Như Lai, chính mình thắp một ngọn đèn, đốt một lóng tay hay ở trên thân đốt một điểm hương, ta nói người ấy nợ cũ từ vô thủy một thời trả hết, đời đời cáo biệt thế gian, vĩnh viễn thoát các lậu. Người ấy tuy chưa rõ liền con đường vô thượng giác, nhưng đối với Phật pháp đã có tâm quyết định. Nếu không làm được nhân duyên xả thân chút ít này, dẫu thành tựu được pháp vô vi, cũng phải sanh lại làm người, trả hết nợ cũ, như chuyện ăn lúa ngựa của ta không khác.

Ông dạy người đời tu tam ma đề, sau nữa phải đoạn trừ tâm trộm cắp. Đó là lời dạy rõ ràng thanh tịnh quyết định thứ ba của Như Lai, Phật, Thế Tôn.

Thế nên, A Nan, nếu chẳng đoạn trừ trộm cắp mà tu thiền định thì cũng như người rót nước vào chén lủng mà muốn nước đầy, dù trải qua nhiều kiếp cũng chẳng thể đầy. Nếu các Tỳ kheo ngoài y bát ra, có dư thì không mảy may tích trữ, xin bửa ăn có dư thì bố thí cho chúng sanh đói; nơi hội chúng lớn, chấp tay lễ chúng. Có người đánh mắng tưởng đồng như khen ngợi, quyết buông bỏ thân tâm, xem thân thịt máu xương cùng chung với chúng sanh. Không đem lời dạy bất liễu nghĩa của Như Lai làm chỗ hiểu của mình, khiến kẻ mới học lầm lạc, Phật ấn chứng cho người ấy được tam muội chân thật.

Như ta nói đây gọi là lời Phật, chẳng như đây nói là lời ma Ba Tuần.

……………………………………

Sự trộm cắp thật là vi tế, lấy nhiều so với cần dùng cũng là trộm cắp. Cái thân mượn tạm này có mượn cơm áo thì phải trả theo nhân quả. Mượn, nợ nhiều quá thì khó thoát khỏi phải quay trở lại thế gian để trả nợ. Khất thực có dư thì cho chúng sanh đói, đốt chút phần thân thể, xem thân thịt là của chung của chúng sanh…đều là xả bỏ lòng tham mà làm lợi cho người khác.

Cho đến mượn Phật pháp để làm lợi cho mình, “đem lời dạy bất liễu nghĩa của Như Lai làm chỗ hiểu của mình, làm lầm lạc người mới học” thì đều là trộm cắp cả. Còn nếu buông bỏ thân tâm, đồng sự với chúng sanh, chắp tay lễ đại chúng, xem sự đánh mắng đồng như khen ngợi, là biết dùng cái thân tâm mượn tạm này làm hạnh Bồ tát làm lợi lạc chúng sanh thì đó mới là không nợ, cuộc đời ở trần gian này mới có ‘lời’.

………………………………….

A Nan, chúng sanh lục đạo trong thế giới, tuy thân tâm không có Giết, Trộm, Dâm, ba hạnh đã tròn, nhưng nếu có đại vọng ngữ thì tam ma đề không được thanh tịnh, thành ma ái kiến, mất giống Như Lai. Đó là chưa được mà nói được, chưa chứng mà nói chứng; hoặc cầu sự tôn trọng tột bực của thế gian, bảo người khác rằng, tôi nay đã chứng quả Tu Đà Hoàn, quả A Na Hàm, đạo A La Hán, thừa Bích Chi Phật, Bồ tát trước địa hay trong Thập địa, trông mong người kia lễ sám, tham sự cúng dường. Đấy là những kẻ ngu si, tự diệt giống Phật, như người lấy dao chặt cây Đa la. Phật nói người ấy mất hẳn căn lành, không còn chánh tri kiến, chìm trong ba biển khổ, chẳng thành tam muội.

Ta bảo các hàng Bồ tát và A La Hán, sau khi ta diệt độ, ứng thân sanh vào đời mạt pháp, hiện đủ loại hình để độ các chúng sanh luân hồi. Hoặc làm sa môn, cư sĩ áo trắng, vua chúa, quan lại, đồng nam, đồng nữ; như thế cho đến người dâm nữ, quả phụ, người gian dối, trộm cắp, hàng thịt, buôn bán, cùng họ đồng sự; ca ngợi Phật thừa, khiến cho tâm họ được vào tam ma địa. Nhưng trọn không nói ra tôi thật là Bồ tát, thật là A La Hán, khinh xuất nói với người chưa học làm tiết lộ mật nhân của  Phật, chỉ trừ khi lâm chung thầm có lời di chúc. Làm sao người ấy lại có thể dối gạt chúng sanh để thành tội đại vọng ngữ.

Ông dạy người đời tu tam ma đề, sau hết phải đoạn trừ các đại vọng ngữ. Đó là lời dạy rõ ràng thanh tịnh quyết định thứ tư của Như Lai, Phật, Thế Tôn.

Thế nên, A Nan, nếu người không trừ đại vọng ngữ thì như khắc phân người làm thành hình cây chiên đàn, muốn có hương thơm, không thể có chuyện ấy. Ta dạy các Tỳ kheo trực tâm là đạo tràng, tất cả hành vi trong bốn oai nghi không còn chút giả dối, làm sao lại tự xưng đã đắc pháp thượng nhân, ví như người hèn mạt mà tự xưng là đế vương thì tự chuốc lấy tội tru diệt, huống là bậc Pháp vương làm sao dám đặt điều hư vọng? Nhân địa chẳng chân, phải chuốc lấy quả cong vạy, thế mà mong cầu quả Giác ngộ của Phật, như người muốn cắn rốn, làm sao thành tựu. Nếu các tỳ kheo tâm như dây đàn thẳng, tất cả chân thật thì vào tam ma địa, vĩnh viễn không có ma sự, ta ấn chứng người ấy thành tựu tri giác vô thượng của Bồ tát.

Như ta nói đây gọi là lời Phật, chẳng như đây nói là ma Ba Tuần.

…………………………………..

Nói dối, nói quanh co, gợi ý ta có chứng đắc là tội đại vọng ngữ, chịu quả báo. Ngay hiện tại, “trực tâm là đạo tràng, tâm như dây đàn thẳng, tất cả chân thật thì vào tam ma địa”.

Những Bồ tát và A La Hán ứng thân sanh vào đời mạt pháp, đồng sự với chúng sanh để cứu độ họ, chịu đủ thứ của cuộc đời chúng sanh mà có nói gì đến thân phận mình, tâm đại bi hợp nhất với trí huệ thấy như huyễn mới làm được những công đức vô danh như vậy.

Dâm, giết, trộm, nói dối là nghiệp của thân, khẩu, tâm. Nếu tâm không có những nghiệp cho đến rất vi tế như vậy làm chướng ngại thì tâm ấy tự nhiên là tam muội, là tánh tự viên thông, không có trần lao phiền não. Đức Phật nói rất kỹ bốn thứ bệnh này, cả thô cả tế. Cho nên giữ cho bốn bệnh dù vi tế cũng chẳng sanh, cho đến không còn để mà sanh, thì đây chính là tam muội viên thông, tánh vốn thường tịch và hằng chiếu.

Chỉ cần lấy một câu mà hành, “trực tâm là đạo tràng”, “tất cả chân thật”, “thoát khỏi sự báo đền nợ nghiệp, chẳng đi trong ba cõi” “đoạn trừ tâm trộm cắp” ….thì trong không có ngã, ngoài không có pháp, đó chẳng phải là tam muội hiện tiền, viên thông sẵn đủ sao?

Hết Quyển 6

Post Comment